Chương 1: Tổng quan các công trình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận án; Chương 2: Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị chống chiến lược “chiến tranh cục bộ” (1965-1968); Chương 3: Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị chống chiến lược “Việt Nam hóa chiến tranh” (1969-1975); Chương 4: Nhận xét và kinh nghiệm. Chƣơng 1 TỔNG QUAN CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Công trình nghiên cứu trong nƣớc 1.
Công trình nghiên cứu về phong trào đấu tranh chính trị ở miền Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) Công trình “Dưới lá cờ vẻ vang của Đảng, vì độc lập tự do, vì chủ nghĩa xã hội, tiến lên giành những thắng lợi mới” của Lê Duẩn (1976), công trình tổng kết những vấn đề lý luận về chiến tranh nhân dân và kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, trong đó kinh nghiệm chỉ đạo ĐTCT là một trong những nội dung quan trọng. Khẳng định sự sáng tạo của phương pháp cách mạng, công trình cho rằng: “Khái quát chung lại, có thể nói bạo lực cách mạng phải dựa vào hai lực lượng: lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, và bao gồm hai hình thức đấu tranh: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và sự kết hợp giữa hai hình thức ấy” [33, tr. Công trình “Chiến tranh nhân dân, quốc phòng toàn dân” của Văn Tiến Dũng (1979) góp phần làm sáng rõ nhiều vấn đề về chỉ đạo kháng chiến của Đảng, cũng như về lý luận và thực tiễn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và phong đấu tranh chính trị ở miền Nam Việt Nam nói chung [35]. Công trình “Phong trào đấu tranh chống Mỹ của giáo chức, học sinh, sinh viên Sài Gòn” của Hồ Hữu Nhựt (1984), tác giả phân tích quá trình đấu tranh chống chính sách giáo dục thực dân mới của Mỹ trong giới giáo chức, học sinh, sinh viên Sài Gòn từ năm 1955 đến năm 1975 [150].
Công trình “Cuộc chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ ở Việt Nam”, do Viện Lịch sử quân sự Việt Nam biên soạn (1991) đã phân tích sâu sắc bối cảnh, quá trình đế quốc Mỹ xâm lược Việt Nam và xác định: cuộc kháng chiến chống Mỹ là thách thức lớn nhất, ác liệt nhất đối với dân tộc. Nhân dân Việt Nam đã phải đương đầu với đế quốc hùng mạnh nhất. Công trình khắc họa quá trình nhân dân Việt Nam kháng chiến qua các phong trào đấu tranh quân sự, chính trị, ngoại giao, làm thất bại âm mưu thi hành chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ [175]. Công trình “Tổng kết cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước: Thắng lợi và bài học” của Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995), công trình đã đề cập đến những vấn đề cơ bản về ĐTCT, làm rõ vai trò, cơ sở, hình thức tiến hành ĐTCT trong ba mũi giáp công: “Ở miền Nam, chiến tranh nhân dân phát triển sâu rộng trên cả 3 vùng chiến lược, các hình thức vũ trang, đấu tranh chính trị, ba mũi giáp công trên các chiến trường cũng phát triển mạnh” [19, tr.
Về vai trò của ĐTCT, công trình chỉ rõ: “Đấu tranh chính trị của quần chúng cũng là một hình thức đấu tranh cơ bản có tác dụng quyết định trong tất cả các giai đoạn phát triển của cách mạng miền Nam và đối với thắng lợi của cuộc chống Mỹ, cứu nước” [19, tr. 153]; đồng thời “Kết hợp hai mặt ĐTQS và ĐTCT là vấn đề cơ bản có tính quy luật trong phương pháp cách mạng miền Nam, đồng thời là đặc điểm nổi bật tạo nên sức mạnh vô địch của chiến tranh nhân dân Việt Nam chống chiến tranh xâm lược thực dân mới của đế quốc Mỹ” [19, tr. Công trình “Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam”, tập 2 của Viện Nghiên cứu chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh (1995), làm rõ đường lối của Đảng trong kháng chiến chống Mỹ (1954-1975), đề cập đến các phong trào ĐTCT trên chiến trường miền Nam. Công trình khẳng định: “Phong trào đấu tranh chính trị của đông đảo quần chúng có sức tiến công và tạo ra thế uy hiếp địch rất to lớn; các đoàn thể quần chúng cách mạng thực sự là những đội quân đấu tranh chính trị chống địch ở khắp nông thôn và thành thị”, công trình đánh giá cao vai trò của ĐTCT đối với sự nghiệp đấu tranh thống nhất đất nước, do đó, “thường xuyên chú trọng việc xây dựng lực lượng chính trị” [178, tr.
145] là bài học quan trọng trong công tác lãnh đạo cách mạng của Đảng ở miền Nam. Công trình “Chiến tranh cách mạng Việt Nam (1945-1975) Thắng lợi và bài học”, Ban Chỉ đạo tổng kết chiến tranh, trực thuộc Bộ Chính trị (2000) đã tổng kết quá trình Đảng lãnh đạo các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc, rút ra những bài học kinh nghiệm qua thời kỳ 30 năm chiến đấu của nhân dân. Về vai trò của đấu tranh chính trị, công trình đã khẳng định: Thực tiễn cách mạng Việt Nam chứng tỏ sự phát triển mới về quan điểm bạo lực. Điểm mới ở đây là “bạo lực không chỉ có hình thức duy nhất là đấu tranh vũ trang mà nhất thiết cần có lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị.
Không có lực lượng chính trị và đấu tranh chính trị thì đấu tranh vũ trang và lực lượng vũ trang không thể giành thắng lợi” [20, tr. Đã có những nhận thức hạn hẹp chỉ quy bạo lực vào hình thức vũ trang, nói cách khác, chỉ có hình thức đấu tranh bằng vũ trang mới được coi là bạo lực. Bạo lực có thể được thể hiện và thực hiện dưới nhiều hình thức khác nhau. Bạo lực cách mạng phải dựa vào hai lực lượng, lực lượng quân sự và lực lượng chính trị, bao gồm hai loại hình đấu tranh: đấu tranh vũ trang và đấu tranh chính trị và sự kết hợp giữa hai loại hình ấy.
Công trình “Phong trào chống phá bình định nông thôn ở Nam Bộ trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1969-1975)”, tác giả Hà Minh Hồng (2000) đã dựng lại thực tế diễn biến cuộc kháng chiến giai đoạn này từ góc độ trận tuyến bình định - chống phá bình định ở chiến trường Nam Bộ, phân tích, lý giải những vấn đề về nội dung, vai trò, đặc điểm, cùng những yếu tố ảnh hưởng của vấn đề này đến sự phát triển của cuộc kháng chiến tại đây, góp phần đánh giá cuộc kháng chiến của nhân dân ở Nam Bộ [72]. Công trình “Khu VI kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975)” của Viện Lịch sử Đảng (2002), làm rõ trong quá trình lãnh đạo kháng chiến, các cấp ủy Đảng ở Khu VI rất coi trọng ĐTCT, đặc biệt chú trọng “xây dựng nòng cốt, phát động quần chúng đối với vùng yếu, vùng trắng, dùng phương thức đội vũ trang công tác để mở phong trào, kết hợp với vận dụng các khả năng công khai hợp pháp” [173, tr. Công trình “Về cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước” của Văn Tiến Dũng (2005), tác giả đã tổng kết sự lãnh đạo của Đảng đối với cuộc KCCMCN. Trong đó, tập trung vào một số nội dung: về đường lối chiến lược, sách lược, về xây dựng Đảng và tổ chức lực lượng, về phương pháp đấu tranh giải phóng miền Nam, về ý nghĩa thắng lợi và bài học kinh nghiệm trong quá trình lãnh đạo cách mạng Việt Nam của Đảng.
Ở công trình này, chiến trường Tây Nam Bộ được đề cập trong tổng thể chung của cách mạng toàn miền Nam [36]. Công trình “Miền Nam giữ vững thành đồng” của Trần Văn Giàu (2006), đã có những phân tích về phong trào ĐTCT trên toàn miền Nam, tác giả chỉ ra rằng: “phong trào đã đoàn kết được rộng rãi hơn trước, chẳng những huy động được nông dân mà còn lôi cuốn được cả những người thuộc tầng lớp trên tham gia, được sự tham gia tích cực của sư sãi người dân tộc Khơ-me, các nhà tu hành theo đạo Cao Đài, đạo Phật và cả tín đồ Công giáo nữa” [61, tr. Công trình “Tổng tập luận văn” của Võ Nguyên Giáp (2006) đưa ra nhiều vấn đề lý luận về ĐTCT, mối quan hệ giữa ĐTCT và ĐTQS. Về định nghĩa ĐTCT, công trình viết: “ĐTCT ở đây nói theo nghĩa hẹp để phân biệt với đấu tranh vũ trang, nghĩa là các hình thức đấu tranh của đông đảo quần chúng nhân dân không cầm vũ khí như bãi công, bãi chợ, bãi khóa, mít tinh, biểu tình, thị uy,… Dựa vào sức mạnh của chính nghĩa và lực lượng đoàn kết, có tổ chức của đông đảo quần chúng, các cuộc đấu tranh này thông thường được tiến hành trong điều kiện hợp pháp, nửa hợp pháp hoặc biến thế bất hợp pháp thành thế hợp pháp cách mạng, nhằm đạt mục đích nhất định về chính trị, kinh tế, văn hóa hoặc có khi cả về quân sự” [60, tr.
Công trình “Lịch sử Mặt trận dân tộc thống nhất Việt Nam”, quyển II (1954-1975) của tác giả Trần Hậu (2007) đã phục dựng hoàn cảnh lịch sử, sự ra đời, mục đích, cương lĩnh hoạt động của các hình thức mặt trận dân tộc thống nhất trên phạm vi cả nước giai đoạn 1954-1975, trong đó đề cập đến Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam, Liên minh các lực lượng dân tộc, dân chủ và hòa bình Việt Nam nói chung và ở Tây Nam Bộ nói riêng. Thành lập Mặt trận dân tộc thống nhất chính là biện pháp cụ thể để các cấp ủy Đảng tập hợp, đoàn kết các lực lượng đấu tranh cho các mục tiêu cách mạng [64]. Công trình “Nam Bộ 1945-1975 Những góc nhìn từ lịch sử chiến tranh cách mạng” của tác giả Hà Minh Hồng (2008), đưa ra những nhận xét về điểm nổi bật trong phong trào chống bình định và ĐTCT ở Nam Bộ [73]. Công trình “Tết Mậu Thân 1968 - Bước ngoặt lớn của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước” của tác giả Hồ Khang (2008), tái hiện bối cảnh lịch sử, thế, lực, thời giữa quân giải phóng và quân Mỹ - quân đội VNCH; chủ trương, kết quả thực hiện tại các chiến trường, ý nghĩa, bài học kinh nghiệm của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân 1968 [84].
Công trình “Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (1954 - 1975)”, tập 2, Hội đồng Chỉ đạo biên soạn Lịch sử Nam Bộ kháng chiến (2010), đây là công trình khắc họa các phong trào đấu tranh của quân và dân Nam Bộ dưới sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng. Trong công trình này, diễn biến tình hình chiến trường TNB được đặt trong thế đối sánh với chiến trường Trung Nam Bộ, Đông Nam Bộ, tạo nên tổng thể cuộc đấu tranh của nhân dân Nam Bộ suốt 21 năm trường kỳ kháng chiến [66].