Tổng quan về luận án

Nghiên cứu về lịch sử chiến tranh cách mạng Việt Nam giai đoạn 1965–1975 luôn là chủ đề thu hút sự quan tâm sâu sắc của giới học thuật trong nước và quốc tế. Luận án tiến sĩ chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam (Mã số: 922 90 15) của tác giả Nguyễn Thị Bích Thúy, được thực hiện tại Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Ngọc Hà và PGS.TS. Dương Minh Huệ, mang tiêu đề: "Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào đấu tranh chính trị từ năm 1965 đến năm 1975". Công trình đã tái hiện và đúc kết một cách toàn diện, hệ thống nghệ thuật chỉ đạo đấu tranh chính trị (ĐTCT) trên một địa bàn chiến lược đặc thù ở cực Nam Tổ quốc.

Khoảng trống nghiên cứu (research gap) mà luận án giải quyết xuất phát từ thực tiễn: phần lớn các công trình lịch sử chiến tranh trước đây tập trung vào mũi đấu tranh quân sự (ĐTQS), chiến tranh du kích hoặc chỉ khảo sát phong trào ĐTCT tại các đô thị lớn như Sài Gòn – Gia Định (Lê Quý Thi, 2013; Phí Văn Thức, 2006), miền Trung (Huế, Đà Nẵng) hay Tây Nguyên (Trần Thị Lan, 2015, 2017). Địa bàn Tây Nam Bộ (chiến trường T3/Quân khu 9) có vị trí trọng yếu thuộc Vùng 4 chiến thuật của chính quyền Sài Gòn, sở hữu hơn 1.000.000 ha đất canh tác lúa, sản xuất 3–4 triệu tấn lương thực mỗi năm (chiếm 86% sản lượng Nam Bộ và 72% toàn miền Nam), cung cấp cho Sài Gòn từ 380.000 tấn gạo và xuất khẩu 344.000 tấn/năm (1959–1964). Đây là địa bàn trọng điểm của các chương trình "bình định nông thôn", gom dân, tát dân và đôn quân bắt lính của đối phương (năm 1973 tuyển 84.000 quân, năm 1974 bổ sung 96.000 quân). Tuy nhiên, chưa có một công trình chuyên khảo cấp tiến sĩ nào phân tích chuyên sâu vai trò lãnh đạo độc lập, sáng tạo của cấp Khu ủy đối với phong trào ĐTCT ở không gian sông nước đan xen đa dân tộc (Kinh, Khmer, Hoa, Chăm) và đa tôn giáo (Phật giáo, Hòa Hảo, Cao Đài, Công giáo, Tin Lành).

Luận án tập trung giải quyết 4 câu hỏi nghiên cứu cốt lõi:

  1. Những yếu tố đặc thù về tự nhiên, kinh tế, xã hội, tôn giáo, dân tộc và truyền thống cách mạng đã tác động như thế nào đến sự lãnh đạo phong trào ĐTCT của Khu ủy Tây Nam Bộ giai đoạn 1965–1975?
  2. Khu ủy Tây Nam Bộ đã cụ thể hóa đường lối, chỉ thị của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam để chỉ đạo phong trào ĐTCT đánh bại chiến lược "Chiến tranh cục bộ" (1965–1968) như thế nào?
  3. Sự chuyển hướng và nghệ thuật chỉ đạo phong trào ĐTCT chống chiến lược "Việt Nam hóa chiến tranh" (1969–1975), đặc biệt là giai đoạn trước và sau Hiệp định Paris 1973, diễn ra ra sao?
  4. Đâu là những thành công, hạn chế, nguyên nhân và bài học kinh nghiệm lịch sử có giá trị vận dụng cho công tác dân vận, tôn giáo vận và củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc hiện nay?

Hệ thống giả thuyết nghiên cứu (hypotheses) được xác lập:

  • H1: Phong trào ĐTCT tại Tây Nam Bộ không chỉ mang tính phối hợp hỗ trợ mà giữ vai trò là một hình thức đấu tranh cơ bản, độc lập, có tính quyết định trong việc phá vỡ các gọng kìm "tìm diệt" và "bình định" của đối phương.
  • H2: Việc kết hợp nhuần nhuyễn phương châm "hai chân, ba mũi, ba vùng" gắn liền với nghệ thuật khai thác mâu thuẫn xã hội, lợi dụng tính hợp pháp/nửa hợp pháp và tập hợp lực lượng đồng bào Khmer, các tổ chức tôn giáo là nhân tố quyết định thành công của Khu ủy T3.
  • H3: Sự lãnh đạo đúng đắn của Khu ủy Tây Nam Bộ đã biến sức mạnh chính trị - tinh thần của quần chúng thành một thứ "bạo lực cách mạng phi vũ trang", tạo lập thế trận "cài răng lược" áp đảo bộ máy kìm kẹp của chính quyền Sài Gòn.

Phạm vi nghiên cứu được xác định rõ ràng: không gian thuộc địa bàn Quân khu 9 (T3) gồm các tỉnh Vĩnh Long, Trà Vinh, Cần Thơ (gồm Hậu Giang), Rạch Giá, Hà Tiên (Kiên Giang), Sóc Trăng, Cà Mau, Bạc Liêu; thời gian từ tháng 3/1965 (khi Mỹ bắt đầu triển khai "Chiến tranh cục bộ") đến tháng 5/1975 (giải phóng hoàn toàn miền Nam).


Literature Review và Positioning

Nghiên cứu về phong trào ĐTCT và chiến tranh nhân dân trong kháng chiến chống Mỹ đã hình thành nên nhiều dòng học thuật phong phú:

Trong nước, các công trình kinh điển của Lê Duẩn (1976), Văn Tiến Dũng (1979, 2005), Võ Nguyên Giáp (2006) và các công trình tổng kết của Ban Chỉ đạo Tổng kết chiến tranh trực thuộc Bộ Chính trị (1995, 2000) đã đặt nền móng lý luận vững chắc về bạo lực cách mạng. Lê Duẩn khẳng định: "Khái quát chung lại, có thể nói bạo lực cách mạng phải dựa vào hai lực lượng: lực lượng quân sự, lực lượng chính trị, và bao gồm hai hình thức đấu tranh: đấu tranh quân sự, đấu tranh chính trị và sự kết hợp giữa hai hình thức ấy".

Võ Nguyên Giáp (2006) định nghĩa ĐTCT theo nghĩa hẹp là các hình thức bãi công, bãi thị, bãi khóa, mít tinh, biểu tình của quần chúng không cầm vũ khí, biến thế bất hợp pháp thành hợp pháp cách mạng. Trần Văn Giàu (2006) phân tích sâu về sức mạnh đại đoàn kết, nhấn mạnh sự tham gia của sư sãi Khmer, chức sắc Cao Đài, Hòa Hảo, Phật giáo và Công giáo.

Bên cạnh đó, các công trình của Viện Lịch sử Quân sự Việt Nam (2013, 2015), Hà Minh Hồng (2000, 2008), Lê Cung (2015) và lịch sử đảng bộ các địa phương (Cần Thơ, Vĩnh Long, Trà Vinh, Bạc Liêu, Cà Mau, Kiên Giang) đã làm rõ từng mặt trận cụ thể nhưng còn mang tính phân tán hoặc thuần túy tổng kết sự kiện quân sự.

Trên trường quốc tế, các học giả và tướng lĩnh đối phương đã nhìn nhận cuộc chiến dưới góc độ phân tích phản gián và chiến lược:

  • Gabriel Kolko (1991) trong Giải phẫu một cuộc chiến tranh nhận định sâu sắc: "Họ tiến hành một cuộc chiến bằng chính trị""sự thật là không phải quân đội mà chính nhân dân đã thắng trong cuộc chiến tranh, nhưng làm sao có thể tách đôi? Nhân dân là quân đội, tất cả đều là chiến sĩ".
  • Cựu Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Robert S. McNamara (1995) trong hồi ký Nhìn lại quá khứ - Tấn thảm kịch và những bài học về Việt Nam đã thừa nhận: "Chúng ta đã không nhận ra được những hạn chế của các thiết bị quân sự kỹ thuật cao và hiện đại, lực lượng quân sự và học thuyết quân sự trong khi đối đầu với những phong trào nhân dân được thúc đẩy cao và không bình thường".
  • Chuyên gia chống nổi dậy Robert Thompson (1965) trong Defeating Communist Insurgency so sánh chiến trường Malaya và Việt Nam, chỉ rõ phong trào nổi dậy ở nông thôn miền Nam Việt Nam gắn kết chặt chẽ với cấu trúc làng xã, khiến các kế hoạch ấp chiến lược bị phá vỡ từ bên trong. Peter Francis Leahy (1990) cũng chứng minh sự sụp đổ của chương trình ấp chiến lược do vấp phải phản ứng quyết liệt của khối nông dân được tổ chức hóa.

Định vị học thuật: Luận án của Nguyễn Thị Bích Thúy định vị chính xác vào điểm giao thoa giữa lịch sử tổ chức Đảng và khoa học quân sự - chính trị. Công trình không lặp lại các mô tả sự kiện thuần túy mà đi sâu mổ xẻ cơ chế ra quyết định, tổ chức bộ máy và nghệ thuật chỉ đạo của Khu ủy Tây Nam Bộ – một cấp ủy trung gian đóng vai trò "nhà kiến tạo và điều phối chiến lược" tại chỗ, biến các chỉ thị vĩ mô của Trung ương thành phong trào hành động cách mạng cụ thể của hàng triệu quần chúng.


Đóng góp lý thuyết và khung phân tích

Đóng góp cho lý thuyết

Luận án đóng góp quan trọng vào hệ thống lý luận Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về chiến tranh nhân dân và bạo lực cách mạng:

  • Tái định nghĩa cấu trúc bạo lực cách mạng: Chứng minh bằng thực chứng lịch sử rằng bạo lực cách mạng không đồng nhất tuyệt đối với bạo lực vũ trang. Lực lượng chính trị quần chúng khi được tổ chức chặt chẽ, có kỷ luật và phương pháp đấu tranh khoa học sẽ tạo ra một sức mạnh cưỡng bức chính trị (political coercive power) tương đương hoặc vượt trội các đòn tiến công quân sự trong việc làm tan rã bộ máy kìm kẹp cấp cơ sở.
  • Hệ thống hóa các mệnh đề lý thuyết (Theoretical Propositions):
    • Mệnh đề 1 (P1): ĐTCT là nền tảng sản sinh, nuôi dưỡng và bảo vệ lực lượng vũ trang nhân dân trong điều kiện chiến tranh bất đối xứng (asymmetric warfare).
    • Mệnh đề 2 (P2): Hiệu quả của ĐTCT tỷ lệ thuận với mức độ tích hợp các khẩu hiệu dân sinh, dân chủ thiết thân với mục tiêu độc lập dân tộc.
    • Mệnh đề 3 (P3): Tại địa bàn đa tôn giáo, đa tộc người, sức mạnh ĐTCT chỉ đạt đỉnh cao khi cấp ủy Đảng thể chế hóa thành công chính sách liên minh dân tộc và tự do tín ngưỡng thành hành động chính trị tự giác của quần chúng.
    • Mệnh đề 4 (P4): Sự kết hợp nhịp nhàng giữa "hai chân" (quân sự – chính trị) và "ba mũi giáp công" (quân sự – chính trị – binh vận) tạo ra hiệu ứng cộng hưởng triệt tiêu các học thuyết quân sự hiện đại của đối phương.

Khung phân tích độc đáo

Khung phân tích của luận án được xây dựng dựa trên sự tích hợp của ba trụ cột lý thuyết:

  1. Lý luận Bạo lực cách mạng toàn diện của Chủ nghĩa Mác-Lênin và Đảng Lao động Việt Nam.
  2. Mô hình tác chiến ba vùng chiến lược (nông thôn đồng bằng, đô thị, căn cứ rừng núi/sông ngòi).
  3. Lý thuyết Phong trào xã hội (Social Movement Theory) về cấu trúc cơ hội chính trị, mạng lưới huy động nguồn lực và khung nhận thức văn hóa – tôn giáo.

Phương pháp tiếp cận độc đáo này cho phép luận án phân tích phong trào ĐTCT không phải như các cuộc biểu tình tự phát, mà là một hệ thống tác chiến chính trị có tổ chức: từ Ban Dân vận Khu ủy (Công vận, Nông vận, Binh vận, Thanh vận, Phụ vận, Tôn giáo vận, Khmer vận) xuống đến các tổ chức đoàn thể cơ sở.

Boundary Conditions (Điều kiện biên): Khung phân tích này áp dụng hữu hiệu cho các chiến trường có địa hình sông nước chia cắt, kinh tế nông nghiệp tự cấp tự túc dồi dào, cấu trúc xã hội đa tộc người, đa tín ngưỡng và tồn tại thế trận đan xen cài răng lược giữa hai lực lượng đối kháng.


Phương pháp nghiên cứu tiên tiến

Thiết kế nghiên cứu

Luận án vận dụng thế giới quan và phương pháp luận của Chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, kết hợp với lập trường Hiện thực phê phán (Critical Realism) nhằm giải mã các cơ chế nhân quả ẩn sâu dưới các diễn trình lịch sử.

Thiết kế nghiên cứu sử dụng phương pháp Lịch sử kết hợp phương pháp Lô-gíc đa cấp độ (Multi-level historical analysis):

  • Cấp độ vĩ mô: Chủ trương chiến lược của Trung ương Đảng và Trung ương Cục miền Nam (Nghị quyết 12 tháng 12/1965, Nghị quyết 154-NQ/TW tháng 1/1967, Nghị quyết TƯCMN lần 4 tháng 3/1966).
  • Cấp độ trung mô: Sự chỉ đạo cụ thể hóa của Khu ủy Tây Nam Bộ (thành lập ngày 7/7/1961 gồm 10 đồng chí, do Nguyễn Thành Thơ làm Bí thư, sau đó là Võ Văn Kiệt).
  • Cấp độ vi mô: Diễn biến các phong trào đấu tranh của công nhân, nông dân, phụ nữ ("Đội quân tóc dài"), học sinh – sinh viên, chư tăng Khmer tại các tỉnh Cần Thơ, Trà Vinh, Vĩnh Long, Sóc Trăng, Rạch Giá, Bạc Liêu, Cà Mau.

Quy trình nghiên cứu rigorous

Nghiên cứu tuân thủ quy trình kiểm chứng nghiêm ngặt thông qua kỹ thuật Tam giác hóa nguồn tư liệu (Data Triangulation):

  1. Nguồn sơ cấp phía cách mạng: Các văn kiện chỉ đạo tuyệt mật, báo cáo tổng kết của Khu ủy Tây Nam Bộ, Trung ương Cục miền Nam lưu trữ tại Viện Lịch sử Đảng, Cục Lưu trữ Văn phòng Trung ương Đảng và Ban Tuyên giáo các Tỉnh ủy ĐBSCL.
  2. Nguồn sơ cấp và thứ cấp phía đối phương: Báo cáo của Lầu Năm Góc (1971), tài liệu giải mật của CIA (McGehee, 1983), các sắc lệnh hành chính VNCH (Sắc lệnh 143-NV phân chia địa giới miền Tây thành các tỉnh Phong Dinh, Ba Xuyên, An Xuyên, Vĩnh Bình, Kiên Giang, Chương Thiện).
  3. Nguồn hồi ký và lịch sử địa phương: Đối chiếu lịch sử kháng chiến của 8 đảng bộ tỉnh với hồi ký của các đồng chí lãnh đạo trực tiếp chiến trường (Võ Văn Kiệt, Nguyễn Thành Thơ, Vũ Đình Liệu) và hàng trăm tư liệu phỏng vấn nhân chứng lịch sử thuộc "Đội quân tóc dài" và sư sãi yêu nước.

Độ tin cậy và tính giá trị (Construct & Internal Validity) được đảm bảo thông qua việc giám định niên đại văn bản, phê phán sử liệu (source criticism) và đối chiếu chéo số liệu giữa báo cáo nội bộ cách mạng và số liệu thú nhận tổn thất của đối phương.

Data và phân tích

Dữ liệu lịch sử được xử lý bằng phương pháp định tính chuyên sâu kết hợp thống kê lịch sử:

  • Dữ liệu kinh tế - nhân khẩu: Diện tích canh tác 1.000.000 ha lúa, sản lượng 3–4 triệu tấn thóc; cấu trúc tôn giáo gồm 300 ngôi chùa Nam tông và hơn 8.000 sư sãi Khmer; mạng lưới hàng trăm họ đạo Công giáo, Cao Đài, Hòa Hảo.
  • Dữ liệu phong trào: Thống kê quy mô các đợt đấu tranh trực diện (như cuộc biểu tình lôi cuốn 1.000 học sinh bãi khóa kết hợp 200 sạp hàng bãi thị tại trung tâm thị xã, các đoàn biểu tình hàng chục ngàn phụ nữ tràn vào dinh Tỉnh trưởng).
  • Công cụ phân tích: Sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn chính trị (Political Discourse Analysis) đối với hệ thống khẩu hiệu đấu tranh theo từng giai đoạn và phương pháp so sánh lịch sử (Comparative Historical Analysis) giữa các địa bàn ven đô thị, nông thôn giải phóng và vùng tranh chấp kìm kẹp.

Phát hiện đột phá và implications

Những phát hiện then chốt

  1. Vô hiệu hóa chiến lược "Bình định nông thôn" bằng mạng lưới đấu tranh tại chỗ: Trong khi tướng Westmoreland thực thi hai gọng kìm "tìm diệt" và "bình định", chuyển giao nhiệm vụ kiểm soát Đồng bằng sông Cửu Long cho quân đội Sài Gòn dưới sự bảo trợ của cố vấn Mỹ (Mỹ cải tổ bộ máy bình định 3 lần từ 2/1966 đến 5/1967 thành CORDS), Khu ủy T3 đã chỉ đạo chuyển hóa các ấp tân sinh, khu trù mật thành "thế trận cài răng lược". Quần chúng biến các cuộc tập hợp dân của đối phương thành diễn đàn chống càn quét, chống bắn pháo bừa bãi và đòi bồi thường nhân mạng.
  2. Sáng tạo nghệ thuật "Đội quân tóc dài" và sức mạnh gắn kết dân tộc - tôn giáo: Khu ủy Tây Nam Bộ đã lãnh đạo xuất sắc khối liên minh Kinh – Khmer – Hoa. Điển hình tại Trà Vinh và Sóc Trăng, việc phát động hàng vạn chư tăng và đồng bào Khmer xuống đường chống bắt lính đôn quân, chống rào chùa chiền đã đẩy chính quyền Sài Gòn vào tình thế khủng hoảng chính trị sâu sắc, không dám sử dụng vũ khí hạng nặng đàn áp công khai vì sợ bùng nổ phản kháng tôn giáo toàn diện.
  3. Phá vỡ thế bế tắc sau Hiệp định Paris 1973: Một phát hiện có giá trị thực tiễn cao của luận án là việc làm rõ sự chỉ đạo quyết đoán, táo bạo của Bí thư Khu ủy Võ Văn Kiệt và tập thể Khu ủy T3 ngay sau tháng 1/1973. Trước hành động "tràn ngập lãnh thổ" của địch, Khu ủy đã chỉ đạo kết hợp ĐTCT đòi thi hành Hiệp định với kiên quyết phản công quân sự, giữ vững vùng giải phóng, tạo tiền đề trực tiếp cho cuộc Tổng tiến công mùa Xuân 1975.
  4. Hiện tượng chuyển hóa mâu thuẫn kinh tế thành động lực chính trị: Bằng chứng lịch sử cho thấy các sắc thuế nặng nề, lạm phát, chính sách bắt lính và tệ nạn xã hội do viện trợ Mỹ tạo ra ở các đô thị miền Tây đã bị Khu ủy tận dụng triệt để. Khẩu hiệu đi từ "dân sinh, dân chủ" hợp pháp dần nâng lên thành khẩu hiệu "chống Mỹ - Thiệu", "đòi hòa bình, độc lập", kéo cả tầng lớp tư sản dân tộc, trí thức, giáo chức và gia đình binh sĩ Sài Gòn tham gia hàng ngũ đấu tranh.

Implications đa chiều

  • Về mặt lý thuyết: Làm phong phú kho tàng lý luận chiến tranh nhân dân Việt Nam; cung cấp mô hình thực chứng về khả năng kiềm chế công nghệ quân sự tối tân bằng tổ chức chính trị quần chúng.
  • Về phương pháp luận: Thiết lập quy trình nghiên cứu lịch sử Đảng kết hợp phân tích xã hội học tôn giáo - dân tộc học vùng đồng bằng.
  • Về thực tiễn và chính sách:
    • Đúc kết bài học về "Thế trận lòng dân" cho chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.
    • Cung cấp luận cứ khoa học để hoàn thiện chính sách dân tộc, công tác tôn giáo vận tại vùng Đồng bằng sông Cửu Long, chủ động nhận diện và đập tan các âm mưu kích động tư tưởng dân tộc hẹp hòi hoặc lợi dụng tôn giáo chống phá khối đại đoàn kết toàn dân tộc.

Limitations và Future Research

Luận án thẳng thắn thừa nhận các giới hạn nghiên cứu (limitations):

  • Giới hạn không gian chuyên biệt: Do tính chất đặc thù, công trình chưa nghiên cứu sâu phong trào ĐTCT diễn ra bên trong các nhà tù, trại giam (như hệ thống nhà tù Phú Quốc, Côn Đảo do Trung ương hoặc cấp khác quản lý).
  • Giới hạn dữ liệu vi mô: Một số tài liệu lưu trữ cấp chi bộ xã, ấp bị thất lạc hoặc tiêu hủy trong các trận bom càn khốc liệt giai đoạn 1968–1970, buộc tác giả phải dựa nhiều vào tài liệu hồi ký và lịch sử đảng bộ địa phương để tái dựng.
  • Mức độ định lượng: Việc lượng hóa chính xác số lượt quần chúng tham gia các cuộc đấu tranh tự phát tại các vùng sâu, vùng tranh chấp còn mang tính ước đoán tương đối dựa trên số liệu tổng kết của các Ban cán sự Khu ủy.

Chương trình nghiên cứu tương lai (Future Agenda):

  1. Mở rộng nghiên cứu so sánh đối sánh phong trào ĐTCT giữa Khu 9 (Tây Nam Bộ) và Khu 8 (Trung Nam Bộ) nhằm làm rõ sự tương đồng và dị biệt của văn hóa sông nước trong chiến tranh.
  2. Ứng dụng phương pháp mạng lưới xã hội (Social Network Analysis) để mô hình hóa các đường dây giao liên mật và cơ chế huy động quần chúng từ vùng căn cứ vào nội ô thị xã.
  3. Nghiên cứu tác động tâm lý chiến và hoạt động văn hóa – tư tưởng của các cơ quan Tuyên huấn Khu ủy T3 trên mặt trận chống lại lối sống thực dụng và chiến tranh tâm lý của đối phương.

Tác động và ảnh hưởng

Luận án mang lại những giá trị tác động đa tầng:

  • Tác động học thuật: Trở thành tài liệu tham khảo chuẩn mực, cung cấp hệ thống dữ liệu toàn diện về chiến trường miền Tây Nam Bộ cho các viện nghiên cứu, trường đại học chuyên ngành Lịch sử Đảng, Xây dựng Đảng và Khoa học Xã hội Nhân văn.
  • Tác động chính sách: Cung cấp cơ sở khoa học lịch sử cho Ban Dân vận Trung ương, Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ (trước đây) và cấp ủy các tỉnh ĐBSCL trong việc củng cố hệ thống chính trị cơ sở, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân vững chắc.
  • Tác động xã hội: Góp phần giáo dục truyền thống yêu nước, khơi dậy niềm tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ; tri ân những đóng góp, hy sinh to lớn của đồng bào các dân tộc Khmer, Kinh, Hoa và các tôn giáo miền Tây Nam Bộ trong sự nghiệp giải phóng đất nước.

Đối tượng hưởng lợi

  • Nghiên cứu sinh và học viên cao học: Tiếp cận nguồn tư liệu lưu trữ phong phú, phương pháp tiếp cận đa ngành và khung phân tích lịch sử – chính trị mẫu mực.
  • Giảng viên và nhà nghiên cứu lịch sử: Sử dụng làm giáo trình chuyên đề, bài giảng thực tế về Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam và Nghệ thuật quân sự Việt Nam.
  • Cán bộ lãnh đạo, quản lý địa phương: Tiếp thu các bài học kinh nghiệm về xử lý mối quan hệ dân tộc, tôn giáo, phương thức vận động quần chúng và xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân tộc tại khu vực Tây Nam Bộ hiện nay.

Câu hỏi chuyên sâu

1. Đóng góp lý thuyết độc đáo nhất của luận án là gì?

Đó là việc chứng minh và làm sâu sắc luận điểm: ĐTCT là một hình thái bạo lực cách mạng có tổ chức, có khả năng tiến công chiến lược độc lập và hỗ trợ đắc lực cho ĐTQS. Luận án đã phát triển lý luận bạo lực cách mạng của V.I. Lênin và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào điều kiện chiến trường sông nước đặc thù Tây Nam Bộ, chỉ ra cơ chế chuyển hóa sức mạnh chính trị - tinh thần của quần chúng thành sức mạnh vật chất cưỡng bức đối phương phải nhượng bộ hoặc tan rã.

2. Điểm mới về phương pháp luận so với các công trình trước đây?

Khác với các nghiên cứu trước đây thường tiếp cận đơn tuyến (hoặc chỉ nghiên cứu quân sự, hoặc chỉ khảo sát phong trào đô thị), luận án áp dụng phương pháp tiếp cận hệ thống - đa tầng nấc kết hợp tam giác hóa tư liệu (Văn kiện Đảng – Hồ sơ lưu trữ Mỹ/VNCH – Lịch sử địa phương và lời kể nhân chứng). Công trình phân tích phong trào ĐTCT trong mối quan hệ hữu cơ "hai chân, ba mũi, ba vùng", làm rõ vai trò điều phối chiến lược của cấp Khu ủy.

3. Phát hiện lịch sử bất ngờ nhất có dữ liệu chứng minh?

Đó là sức mạnh và vai trò đặc biệt của khối đồng bào và chư tăng Phật giáo Nam tông Khmer (với hơn 300 ngôi chùa và 8.000 sư sãi) dưới sự lãnh đạo của Ban Khmer vận Khu ủy. Dù Mỹ và chính quyền Sài Gòn dùng nhiều thủ đoạn mị dân (tặng xe, tivi, rào kẽm gai chùa) và kích động hận thù dân tộc hẹp hòi, chư tăng và đồng bào Khmer vẫn kiên cường biến chùa chiền thành cơ sở cách mạng, tổ chức các cuộc biểu tình chính trị quy mô lớn làm tê liệt chính quyền cơ sở của đối phương tại Trà Vinh, Sóc Trăng.

4. Giao thức kiểm chứng khoa học (Verification Protocol) của công trình?

Luận án thiết lập giao thức đối chiếu chéo ba chiều: Mọi sự kiện đấu tranh chính trị đều được kiểm chứng đồng thời qua (1) Báo cáo tác chiến mật của Khu ủy/Tỉnh ủy; (2) Các bản tin, tài liệu lưu trữ của Tòa Tỉnh trưởng hoặc Bộ Tổng Tham mưu quân đội Sài Gòn; (3) Hồi ký và tư liệu phỏng vấn sâu nhân chứng lịch sử tại các địa phương.

5. Định hướng chương trình nghiên cứu 10 năm tới?

Tập trung xây dựng bộ cơ sở dữ liệu số hóa (Digital Humanities) về phong trào ĐTCT Nam Bộ; mở rộng so sánh quốc tế giữa phong trào ĐTCT Việt Nam với các phong trào kháng chiến phi bạo lực và bất tuân dân sự trên thế giới trong thế kỷ XX; nghiên cứu ứng dụng nghệ thuật dân vận lịch sử vào quản trị rủi ro an ninh phi truyền thống tại vùng ĐBSCL.


Kết luận

Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Bích Thúy là một công trình nghiên cứu khoa học công phu, nghiêm túc và có giá trị học thuật cao. Những đóng góp cốt lõi của công trình bao gồm:

  1. Tái hiện một cách khách quan, toàn diện và có hệ thống quá trình Khu ủy Tây Nam Bộ lãnh đạo phong trào ĐTCT từ năm 1965 đến năm 1975, làm sáng tỏ một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc.
  2. Khẳng định tính đúng đắn, sáng tạo trong việc vận dụng đường lối chiến tranh nhân dân, phương pháp cách mạng "hai chân, ba mũi, ba vùng" của Đảng vào địa bàn chiến lược Tây Nam Bộ.
  3. Đánh giá khách quan những thành tựu rực rỡ cũng như những hạn chế, khuyết điểm trong từng thời điểm cụ thể của Khu ủy T3, chỉ rõ nguyên nhân khách quan và chủ quan.
  4. Đúc kết 5 nhóm bài học kinh nghiệm sâu sắc về xây dựng tổ chức Đảng vững mạnh; về công tác dân vận, tôn giáo vận, Khmer vận; về nghệ thuật chớp thời cơ và kết hợp ĐTCT với ĐTQS, binh vận.
  5. Mở ra các hướng tiếp cận học thuật mới mẻ cho chuyên ngành Lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, kết nối lịch sử với yêu cầu củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và xây dựng thế trận an ninh nhân dân vững chắc tại Đồng bằng sông Cửu Long trong thời kỳ mới.