MỞ ĐẦU Mục tiêu: - Nhận biết đƣợc những qui định của nhà nƣớc về việc nuôi thú hoang dã - Xác định đƣợc mục đích của việc nuôi thú hoang dã - Rèn luyện tính kiên trì, chịu khó trong học tập. Mục đích nuôi thú hoang dã Nhu cầu thị trƣờng động vật hoang dã (ĐVHD) đang trở thành món ẩm thực đặc sản, thuốc chữa bệnh, đã dẫn tới sự săn bắt, khai thác bừa bãi các loại động vật ngoài tự nhiên ngày càng làm cạn kiệt, nhiều loài và đang có nguy cơ tuyệt chủng. Do đó mục đích của việc tổ chức gây nuôi các loài động vật hoang dã nhằm: - Góp phần vào việc bảo tồn các loại gen động vật tự nhiên. - Tạo ra một nghề chăn nuôi mới đem lại lợi nhuận cao cho các hộ gia đình.
- Cung cấp cho xã hội một nguồn thực phẩm đặc biệt sạch, chất lƣợng cao. Một nguồn dƣợc liệu làm thuốc phòng và chữa bệnh rất tốt giúp nâng cao sự sống và tuổi thọ cho con ngƣời. - Góp phần tạo nên sự cân bằng sinh thái tự nhiên một cách bền vững. Triển vọng của nghề nuôi thú hoang dã Theo Hiệp hội Bảo vệ ĐVHD Việt Nam Wildlife Conservation Society (WCS), nạn săn bắt và buôn bán ĐVHD đang khiến nhiều loài phân bố ở Việt Nam nói riêng và Đông Nam Á nói chung có nguy cơ tuyệt chủng.
- Hiện các trang trại gây nuôi ĐVHD vì mục đích thƣơng mại đang phát triển mạnh về số lƣợng. Những ngƣời khởi xƣớng mô hình này cho rằng, các hoạt động gây nuôi trang trại sẽ làm giảm bớt nạn săn bắt trong tự nhiên bởi ĐVHD gây nuôi và sản phẩm của chúng là mặt hàng thay thế hợp pháp và có chi phí đầu tƣ thấp. Họ còn cho rằng, các trang trại gây nuôi cũng góp phần đảm bảo an ninh lƣơng thực và là công cụ hữu hiệu giúp xoá đói giảm nghèo cho các vùng nông thôn. Luật thú y, pháp lệnh thú y, luật pháp Việt Nam và các công ƣớc quốc tế qui định việc nuôi thú hoang dã Để quản lý chặt việc nuôi động vật hoang dã, số thú con ra đời đều đƣợc làm “giấy khai sinh” để quản lý nên sẽ khó có chuyện thú rừng biến thành thú nuôi.
Xuất phát từ yêu cầu trên một số văn bản quản lý ra đời. - Nghị định số 82 - 2006 - NĐ - CP của chính phủ ban hành ngày 10/8/2006 trong đó có quy định về việc nuôi sinh sản, nuôi sinh trƣởng và trồng cây nhân tạo, các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý hiếm. - Nghị định số 32 - 2006 - NĐ - CP ngày 30/3/2006 của chính phủ quy định về quản lý và danh mục thực vật rừng, động vật rừng nguy cấp, quý hiếm. - Nghị định số 88/2003 NĐ/ CP ngày 30/7/2003 của chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội.
- Thông tƣ số 01/2004/TT - BNV ngày 15/1/2004 của bộ nội vụ hƣớng dẫn một số điều của nghị định 88/2003 NĐ/CP ngày 30/7/2003 của chính phủ quy định về tổ chức, hoạt động và quản lý hội. 7 - Quyết định số: 74/2008/QĐ – BNN. Ban hành Danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong các Phụ lục của Công ƣớc về buôn bán quốc tế các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp. - Thông tƣ số 25/2011/TT - BNNPTNT ngày 6/4/2011.
Sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ một số quy định về thủ tục hành chính trong lĩnh vực bảo vệ và phát triển rừng theo Nghị quyết số 57/NQ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2010. Giới thiệu một số giống thú hoang dã có nuôi ở Việt Nam Một số giống thú hoang dã đang đƣợc nuôi ở việt nam hiện nay: - Nhóm thú ăn tạp: Heo rừng, Chồn hƣơng, Khỉ các loại,… - Nhóm thú ăn cỏ: Hƣơu, Nai, Voi,. - Nhó bò sát: Cá sấu, Kỳ đà, Trăn, Rắn các loại,… - Bộ gặm nhấm: Nhiếm, Dúi,… 5. Một số vấn đề cần lƣu ý khi nuôi thú hoang dã Bảo đảm an toàn cho ngƣời nuôi và ngƣời dân trong vùng, an toàn dịch bệnh và vệ sinh môi trƣờng theo quy định.
- Động vậy hoang dã còn mang nhiều bản năng tự nhiên, chƣa đƣợc thuần hóa hoặc có những loài không thể thuần hóa nhƣ trăn, trắn, cá sấu,. thì mức độ nguy hiểm càng cao nếu chúng thoát ra khỏi nơi nuôi nhốt. Vì vậy, chuồng trại nuôi phù hợp với đặc tính của loài nuôi và năng lực sản xuất của trại. - Các bệnh truyền lây giữa ngƣời và động vật nói chung có rất nhiều khoảng 150 bệnh và đƣợc gọi là zoonosis (zoonoses).
Trong đó có nhiều bệnh nguy hiểm đƣợc xác định từ động vật hoang dã. Bệnh Salmonellose do vi khuẩn Salmonella spp gây ra. Phân của gia súc, gà, vịt, chim, rùa, rắn vv… đều có thể chứa vi khuẩn Salmonella spp. Bệnh Campylobactériose vi khuẩn Campylobacter jejuni là thủ phạm chính 3.
Bệnh Psittacose: do vi khuẩn Chlamydia psittaci gây nên. Két là loài chim thƣờng mang bệnh Psittacose nhất. Bệnh Toxoplasmose: do loại nguyên sinh vật ( protozoa) Toxoplasma gondii gây ra. Bệnh do Hanta virus: Phân chuột, các loài gậm nhấm chứa nhiều loại virus này.
Bệnh dại ( rage, rabies): tác nhân là Lyssa virus. Bệnh sốt do mèo quào ( maladie des griffes du chat, cat scratch fever) 8. Bệnh do ký sinh trùng Giardia và Cryptosporum: Hai loại ký sinh trùng nầy nằm trong nhóm nguyên sinh vật (protozoa) 9. Bệnh lác ( teigne, ringworm ): do nấm ký sinh Microsporum gây nên 10.
Bệnh Leptospirose: do vi khuẩn Leptospira spp ( còn gọi là xoắn trùng ) gây ra. Bệnh Tularemie: do vi khuẩn Pasteurella tularensis ( tên củ ), từ 1974 tên đƣợc đổi lại là Francisella turalensis. Bệnh giun lãi của chó và mèo: Toxocara và Ankylostoma là tên 2 loài giun thƣờng hay gặp ở chó và mèo. Về góc độ bảo tồn : 8 Hầu hết các trại nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) tại VN hiện nay đều vì mục đích thu lợi nhuận.
Việc làm này ẩn chứa nhiều nguy cơ cho môi trƣờng và con ngƣời. Đại diện Hiệp hội Bảo tồn ĐVHD (WCS) - cảnh báo rằng: - “Ngƣời nuôi vì lợi nhuận sẽ nhận nuôi càng nhiều càng tốt, không đảm bảo môi trƣờng hoang dã hoặc làm mất hành vi hoang dã của động vật. Cũng vì lợi nhuận, các chủ trại sẽ chỉ tập trung chọn lọc, lƣu giữ những đặc tính có lợi của vật nuôi nhƣ cá sấu có da đẹp, hƣơu có sừng to.” - “Gây nuôi vì mục đích thƣơng mại có thể đe dọa hoạt động bảo tồn. Việc khuyến khích nuôi một loài hoang dã có thể làm tăng lƣợng săn bắt loài đó từ tự nhiên để làm con giống”.
Một khảo sát của WCS năm 2008 cho thấy 42% các trại vẫn lấy con giống từ tự nhiên. Một nghiên cứu năm 2010 cũng chỉ ra rằng 20% trang trại nuôi nhím tại tỉnh Sơn La vẫn mua nhím tự nhiên. 9 Bài 2: NUÔI DƢỠNG, CHĂM SÓC VÀ PHÕNG TRỊ BỆNH NHÓM THÖ ĂN THỊT, ĂN TẠP Mục tiêu: - Nhận biết đƣợc đặc điểm sinh học của nhóm thú ăn thịt, ăn tạp - Nuôi dƣỡng đƣợc nhóm thú ăn thịt (hổ, beo, báo gấm, mèo rừng, sƣ tử.) và nhóm thú ăn tạp (gấu, heo rừng) - Phòng và trị bệnh cho hai nhóm thú ăn thịt và ăn tạp - Thực hiện đúng quy định của pháp luật, an toàn, vệ sinh môi trƣờng. - Thận trọng, an toàn khi tiếp cận với thú dữ 2.1 Đặc điểm sinh học 2.1 Cơ thể học của nhóm ăn thịt, ăn tạp 2.1 Đặc điểm chung Chúng có răng nanh và đều thích nghi với chế độ ăn thịt, răng cửa ngắn nhƣng sắc để róc xƣơng; răng nanh nhọn, lớn, dài để xé mồi; răng hàm lớn hẹp có các mấu nhọn để nghiền thức ăn.
Ruột của nhóm động vật ăn thịt và ăn tạp ngắn do thức ăn dễ tiêu hóa và hấp thụ Cách săn mồi bằng: rình vồ mồi; rƣợt đuổi hay cơ hội.2 Cấu tạo và hoạt động của các bộ máy - Sự phân hóa của bộ răng - Răng cửa nhọn, sắc → gặm và lấy thịt ra khỏi xƣơng. Răng nanh nhọn và dài → cắm chặt vào con mồi và giữ con mồi, tấn công hay tự vệ. - Răng cạnh hàm và răng ăn thịt: Đối với răng lớn, sắc có nhiều mấu dẹt → cắt nhỏ thịt để dễ nuốt, còn răng nhỏ → ít sử dụng. - Dạ dày đơn, to chứa đƣợc nhiều thức ăn.
Thức ăn đƣợc tiêu hóa cơ học và hóa học. - Ruột non ngắn: tiêu hóa và hấp thụ thức ăn - Ruột già ngắn: Hấp thụ lại nƣớc và thải chất cặn bã - Manh tràng nhỏ: hầu nhƣ không có tác dụng.3 Một vài chỉ số sinh lý, sinh hóa 2.4 Tập tính hoang dã và phƣơng thức tồn tại ngoài tự nhiên Hầu hết các loài ăn thịt trong tự nhiên đều là những kẻ tấn công chủ động, tích cực. Một khi đã phát hiện thấy con mồi, chúng sẽ nhanh chóng truy đuổi. Trong quá trình này, chúng không những cần cơ đùi khỏe, một cái miệng rộng với hàm răng sắc nhọn, mà còn phải dùng đến đôi mắt để quan sát chăm chú mục tiêu, ƣớc lƣợng chính xác khoảng cách.
Chính vì thế, mắt ở phía trƣớc mặt sẽ tạo thuận lợi cho quá trình săn đuổi này. Động vật ăn tạp tìm kiếm thức ăn bằng cách rình mò cơ hội, thức ăn của chúng không phải chuyên biệt là động vật hay thực vật. Rất nhiều loài ăn tạp phải phụ thuộc vào sự kết hợp cả thức ăn động vật và thực vật để đảm bảo sức khỏe và khả năng sinh sản.5 Cách tiếp cận 2.1 Yêu cầu - Phải đảm bảo an toàn cho ngƣời trực tiếp chăm sóc nuôi dƣỡng. - Không đƣợc để ngƣời lại vào khu vực chuồng nuôi cũng nhƣ chăm sóc hổ khi chƣa có thời gian làm quen với chúng.
10 - Trong trƣờng hợp bị thú hoang dã tấn công đặc biệt là hổ thì phải dùng súng bắn để cứu ngƣời.2 Cách tiếp cận Đối với những con vật hung dữ nhƣ hổ có thói quen bảo vệ địa phận của chúng, tốt nhất là hãy để chúng thƣờng xuyên tiếp xúc với con ngƣời, nhất là ngƣời trực tiếp chăm sóc, từ khi còn nhỏ. Đây cũng là lý do vì sao các trang trại hổ chỉ nuôi chúng khi còn nhỏ. Nhƣng điều này không có nghĩa là chúng không còn nguy hiểm với con ngƣời. Một con thú dữ vẫn luôn là thú dữ.
Chúng không phải là bạn với con ngƣời, ngay cả khi gần gũi ngay từ nhỏ.2 Chuồng nuôi, khu vực chăn nuôi 2.1 Nhóm ăn thịt Hổ Hổ là động vật quý hiếm đang bị đe dọa nghiêm trọng, có nguy cơ bị tuyệt chủng cao và số lƣợng của nó ngày càng ít khoảng 3200 con ( Bộ tài nguyên và môi trƣờng năm 2014).