Luận văn thạc sĩ về chăn nuôi động vật hoang dã và quản lý tài nguyên rừng tại tỉnh Phú Thọ

Luận văn thạc sĩ phân tích quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh phú thọ, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Trường đại học

Trường Đại Học Lâm Nghiệp

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2018

118
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về chăn nuôi động vật hoang dã

Chăn nuôi động vật hoang dã (ĐVHD) đã trở thành một lĩnh vực quan trọng trong việc bảo tồn và phát triển tài nguyên sinh vật. Theo thống kê, Việt Nam hiện có hơn 10.000 cơ sở nuôi ĐVHD, với khoảng 3 triệu cá thể thuộc 70 loài. Việc chăn nuôi không chỉ đáp ứng nhu cầu thực phẩm mà còn góp phần bảo tồn các loài có nguy cơ tuyệt chủng. Chăn nuôi ĐVHD giúp giảm áp lực săn bắt từ tự nhiên, đồng thời tạo ra nguồn thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, việc quản lý và phát triển lĩnh vực này vẫn còn nhiều thách thức, đặc biệt là trong việc đảm bảo tính bền vững và hợp pháp của hoạt động chăn nuôi.

1.1. Tình hình chăn nuôi ĐVHD tại Phú Thọ

Tại tỉnh Phú Thọ, chăn nuôi động vật hoang dã đang phát triển mạnh mẽ nhờ vào điều kiện tự nhiên và nguồn tài nguyên phong phú. Tuy nhiên, số lượng loài và cá thể đang bị suy giảm do tác động của con người. Các giống bản địa đang dần bị thay thế bởi giống ngoại lai, dẫn đến sự mất mát đa dạng sinh học. Việc quản lý chăn nuôi ĐVHD tại đây cần được cải thiện để bảo tồn các loài quý hiếm và nâng cao hiệu quả kinh tế cho người dân.

II. Quản lý tài nguyên rừng và động vật hoang dã

Quản lý tài nguyên rừng và động vật hoang dã là một nhiệm vụ quan trọng nhằm bảo vệ đa dạng sinh học. Chính phủ Việt Nam đã ban hành nhiều chính sách nhằm bảo vệ và phát triển tài nguyên rừng, trong đó có việc khuyến khích chăn nuôi ĐVHD. Việc quản lý hiệu quả không chỉ giúp bảo tồn các loài động vật mà còn tạo ra nguồn thu nhập cho người dân. Tuy nhiên, việc thực thi các chính sách này vẫn gặp nhiều khó khăn do thiếu sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và cộng đồng địa phương.

2.1. Các chính sách bảo vệ động vật hoang dã

Chính sách bảo vệ động vật hoang dã tại Việt Nam bao gồm các quy định về quản lý và bảo tồn các loài động vật quý hiếm. Các văn bản pháp lý như Luật Đa dạng sinh học và Nghị định về bảo vệ động vật hoang dã đã được ban hành nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn. Tuy nhiên, việc thực hiện các chính sách này còn nhiều hạn chế, đặc biệt là trong việc giám sát và xử lý các hành vi vi phạm.

III. Đề xuất giải pháp quản lý chăn nuôi động vật hoang dã

Để nâng cao hiệu quả quản lý chăn nuôi động vật hoang dã, cần có các giải pháp đồng bộ và hiệu quả. Một trong những giải pháp quan trọng là tăng cường công tác tuyên truyền, giáo dục cộng đồng về ý nghĩa của việc bảo tồn đa dạng sinh học. Bên cạnh đó, cần xây dựng các chương trình hỗ trợ kỹ thuật cho các hộ chăn nuôi, giúp họ nâng cao năng lực sản xuất và quản lý. Việc phát triển các mô hình chăn nuôi bền vững cũng cần được khuyến khích để đảm bảo tính bền vững của nguồn tài nguyên này.

3.1. Tăng cường hợp tác giữa các bên liên quan

Hợp tác giữa các cơ quan chức năng, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng địa phương là rất cần thiết trong việc quản lý động vật hoang dã. Sự phối hợp này sẽ giúp nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện các chính sách bảo tồn, đồng thời tạo ra sự đồng thuận trong cộng đồng về việc bảo vệ tài nguyên thiên nhiên. Các chương trình hợp tác có thể bao gồm việc chia sẻ thông tin, tổ chức các hoạt động bảo tồn và phát triển bền vững.

09/02/2025
Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên rừng nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi động vật hoang dã trên địa bàn tỉnh phú thọ và đề xuất các giải pháp quản lý

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Việt Nam là nƣớc nhiệt đới gió mùa nằm ở khu vực Đông Nam Á, với nguồn tài nguyên sinh vật đa dạng và phong phú. Theo thống kê về thực vật Việt Nam: có 16.928 loài, trong đó thực vật bậc thấp là 4.528 loài, thực vật bậc cao có mạch là 11.458 loài, gồm hơn 4000 loài là cây dƣợc liệu; Về động vật: có 310 loài thú, 870 loài chim, 367 loài bò sát, 176 loài lƣỡng cƣ, 1.100 loài cá nƣớc ngọt, 2.038 loài cá biển và khoảng 7.750 loài côn trùng, thêm vào đó có hàng chục ngàn loài động vật không xƣơng sống ở cạn, ở nƣớc ngọt và ở biển và đặc biệt nhiều loài động vật đặc hữu, quý hiếm đã đƣợc phát hiện… Tuy nhiên, nhiệm vụ bảo vệ và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên cũng đặt ra nhiều thách thức đối với các cơ quan chức năng cũng nhƣ toàn xã hội. Việt Nam có mật độ dân số cao, một bộ phận lớn dân cƣ sống bằng nghề nông - lâm nghiệp với phƣơng thức sản xuất canh tác nặng về khai thác tài nguyên thiên nhiên làm cho tài nguyên đa dạng sinh học (ĐDSH) suy thoái trầm trọng. Ở nƣớc ta, trong những năm qua, Quốc hội đã có những quyết sách quan trọng nhằm tạo hành lang pháp lý cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học bằng việc thông qua các Luật nhƣ: Luật bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (sửa đổi bổ sung năm 2004); Luật đất đai năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 1998, 2003 và 2013); Luật bảo vệ môi trƣờng năm 1993 (sửa đổi, bổ sung năm 2005 và 2014); Luật tài nguyên nƣớc năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).

Đặc biệt ngày 13/11/2008 Việt Nam đã ban hành Luật Đa dạng sinh học. Theo đó, Chính phủ ban hành Nghị định số 65/2010/NĐ-CP, ngày 11/06/2010 quy định chi tiết và hƣớng dẫn thi hành một số điều Luật Đa dạng sinh học. Ngày 19/03/2014, Bộ Tài nguyên và Môi trƣờng có công văn số 882/BTNMT- TCMT gửi UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng đề nghị triển khai 2 thực hiện Chiến lƣợc Quốc gia về đa dạng sinh học và Quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp tỉnh, thành phố trực thuộc trung ƣơng. Việt Nam đã tham gia Công ƣớc quốc tế CITES và cũng ban hành các văn bản chỉ thị nhằm bảo vệ và phát triển ĐDSH nói chung, bảo vệ và phát triển ĐVHD (ĐVHD) nói riêng, dựa trên hai nhóm biện pháp chính là bảo tồn nguyên vị và bảo tồn chuyển vị.

Nhƣ vậy, việc chăn nuôi một số loài ĐVHD không vi phạm Công ƣớc quốc tế đƣợc Chính phủ Việt Nam khuyến khích cho phép chăn nuôi nhằm: Chăn nuôi ĐVHD góp phần bảo tồn ngân hàng gen vô cùng quý giá mà thiên nhiên đã tích lũy trong hàng triệu năm, làm nguồn gốc của tất cả các loài động vật chăn nuôi trong gia đình hiện nay, có vai trò không nhỏ trong việc điều chỉnh cân bằng sinh thái trong tự nhiên. Ngoài việc góp phần hạn chế săn bắt ĐVHD ngoài tự nhiên và bảo vệ ĐDSH, chăn nuôi ĐVHD tạo thêm công ăn việc làm cho lao động ở nông thôn. Các trang trại chăn nuôi góp phần đáng kể làm giảm tỷ lệ thất nghiệp, tạo việc làm cho ngƣời lao động và nâng cao thu nhập. Trong nhiều năm gần đây cùng với sự phát triển đi lên của xã hội thì nhu cầu của con ngƣời ngày càng cao dẫn đến việc lạm dụng quá mức tài nguyên rừng đặc biệt là việc săn bắn, bẫy, bắn, giết mổ các loài động vật rừng trái phép làm suy giảm ngày càng cạn kiệt tài nguyên động vật.

Để phục vụ nhu cầu xã hội nói chung và góp phần bảo vệ ĐVHD thì yêu cầu thực tế đặt ra cần phải quản lý chặt chẽ việc săn bắt, buôn bán nguồn ĐVHD đồng thời cấp phép chăn nuôi để tạo ra sản phẩm cung cấp cho thị trƣờng. Chăn nuôi các loài ĐVHD một mặt bảo tồn đƣợc loài trong tự nhiên, mặt khác đem lại hiệu quả kinh tế cho ngƣời chăn nuôi. Hiện nay nghề nuôi ĐVHD đang trở thành nghề kinh doanh mang lại hiệu quả kinh tế, thu nhập 3 cao, ổn định cuộc sống. Nghề nuôi ĐVHD hiện nay đang phát triển tốt trong cả nƣớc nói chung và ở tỉnh Phú Thọ nói riêng.

Phú Thọ là tỉnh có tính ĐDSH cao thuộc khu vực miền núi, trung du phía Bắc, nằm trong khu vực giao lƣu giữa vùng Đông Bắc, đồng bằng sông Hồng và Tây Bắc đƣợc thiên nhiên ƣu đãi cho nhiều tiềm năng phát triển kinh tế - xã hội. Với nguồn tài nguyên rừng, đất rừng, khoáng sản phong phú và có nhiều loài động vật rừng, thực vật rừng quý hiếm và đặc hữu tập trung chủ yếu tại các khu bảo tồn nhƣ: Vƣờn Quốc gia Xuân Sơn, khu Bảo vệ cảnh quan Đền Hùng, khu Bảo vệ cảnh quan Núi Nả. Dù có tính đa dạng cao nhƣ vậy song do tác động của con ngƣời trong những năm gần đây đã làm cho số loài và số lƣợng cá thể của các loài động vật, thực vật đặc sản, quý hiếm trên địa bàn tỉnh đang bị suy giảm nghiêm trọng, các giống bản địa bị mất dần do sự du nhập của các giống mới hay các loài sinh vật ngoại lai. Dƣới nhiều tác động tiêu cực nhƣ hiện nay nếu không có những biện pháp bảo tồn đa dạng sinh học kịp thời và quyết liệt thì nguy cơ suy giảm tài nguyên động, thực vật và tuyệt chủng các giống loài quý hiếm là một xu thế tất yếu.

Bên cạnh việc suy giảm sự ĐDSH là sự xuất hiện một số loài sinh vật xâm hại có sức sống mạnh, cạnh tranh về môi trƣờng sống, nguồn thức ăn của các loài bản địa cũng là một nguyên nhân. Việc quản lý đến nay hầu nhƣ vẫn chƣa có đƣợc những tiến bộ mang tính đột phá là do chƣa có sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phƣơng. Hay nói một cách khác là cần có một sự thay đổi trong toàn xã hội về quản lý bảo vệ đa dạng sinh học và thiên nhiên, trong đó công việc chăn nuôi ĐVHD góp một vị trí quan trọng. Nghề chăn nuôi ĐVHD đã mang lại nguồn lợi kinh tế và tạo thêm công ăn việc lầm cho một phần lao động.

Số lƣợng loài, số các hộ gia đình, cơ sở chăn nuôi và quy mô chăn nuôi đã khiến hiệu quả hoạt động này chƣa thực sự cao. Mặt khác, việc phát triển các cơ sở chăn nuôi còn mang tính tự phát, kỹ 4 thuật chăn nuôi hạn chế khiến sản phẩm chƣa có tính cạnh tranh cao, chƣa đáp ứng đƣợc các thị trƣờng tiêu dung khó tính, đặc biệt thị trƣờng ngoài nƣớc. Chăn nuôi ĐVHD đã không chỉ coi là một nghề để phát triển kinh tế mà còn có ý nghĩa lớn về mặt bảo tồn đa dạng sinh học cũng nhƣ bảo vệ các loài ĐVHD ngoài tự nhiên. Hoạt động gián tiếp làm giảm áp lực của việc săn bắt, khai thác tài nguyên động vật ngoài tự nhiên đồng thời có thể bảo tồn đƣợc các loài nguy cấp, quý hiếm đặc biệt tại các cơ sở nhân nuôi với mục đích bảo tồn.

Phú Thọ là địa phƣơng có tổng diện tích tự nhiên là 3.519,56 km2,, nguồn lao động dồi dào trong đó phần lớn sống bằng nghề nông, lâm nghiệp. Đây là cơ sở, điều kiện thuận lợi cho việc phát triển hoạt động chăn nuôi ĐVHD tại đây. Để hoạt động chăn nuôi ĐVHD thực sự trở thành một nghề đem lại hiệu quả kinh tế cao thì các nhà quản lý cần đƣa ra chƣơng tình, quy hoạch tổng thể với các định hƣớng rõ ràng, chi tiết. Hiện tại chƣa có công trình nghiên cứu chăn nuôi ĐVHD tại tỉnh Phú Thọ, xuất phát từ hiện trạng nêu trên tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu hiện trạng chăn nuôi ĐVHD trên địa bàn tỉnh Phú Thọ và đề xuất các giải pháp quản lý”.

Kết quả của đề tài là cơ sở để nâng cao hiệu quả quản lý hoạt động chăn nuôi ĐVHD ở địa phƣơng. 5 Chƣơng 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Trên thế giới Do nhu cầu của xã hội ngày càng tăng về các sản phẩm có nguồn gốc từ rừng, con ngƣời đã khai thác, săn bắn quá mức các loài ĐVHD làm cho nguồn tài nguyên này đang ngày càng trở nên cạn kiệt, hầu hết các loài quý hiếm, có giá trị cao đều đứng trƣớc nguy cơ tuyệt chủng hoặc không còn khả năng khai thác. Trƣớc thực tế đó nghề chăn nuôi, thuần dƣỡng các loài ĐVHD đã phát triển mạnh ở nhiều quốc gia trên thế giới nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội, đồng thời giảm áp lực săn bắt ĐVHD và bảo tồn ĐDSH.

Chăn nuôi ĐVHD không những mang laị hiệu quả kinh tế cao mà nó còn là giải pháp quan trọng nhằm bảo tồn hoặc cứu nguy các nguồn gen đang có nguy cơ bị tiệt chủng. Theo Conway (1998), hiện nay tại các vƣờn động vật trên thế giới đang nuôi khoảng 500.000 động vật có xƣơng sống ở cạn, đại diện cho 3.000 loài chim, thú, bò sát, ếch nhái. Mục đích phần lớn của các vƣờn động vật hiện nay là chăn nuôi các quần thể động vật quý hiếm, đang có nguy cơ bị tuyệt chủng và phục vụ thăm quan du lịch giải trí và bảo tồn ĐDSH. Việc nghiên cứu trong các vƣờn động vật cũng đang đƣợc chú trọng, các nhà khoa học đang cố gắng tìm các giải pháp tối ƣu để nhân giống, phát triển số lƣợng các loài ĐVHD.

Tuy nhiên, về kỹ thuật chăn nuôi, sinh thái và tập tính cũng nhƣ việc thả chúng về môi trƣờng tự nhiên có nhiều vấn đề đặt ra cho công tác chăn nuôi ĐVHD cần phải giải quyết. Ở Trung Quốc, Ấn Độ, Đức và Thái Lan là các quốc gia có nghề chăn nuôi ĐVHD phát triển. Tuy nhiên, nguồn tài liệu về chăn nuôi ĐVHD hiện nay là rất hạn chế. Các nghiên cứu về chăn nuôi ĐVHD Một báo cáo từ năm 2011 cho biết, Việt Nam có hơn 10.000 cơ sở nuôi ĐVHD đã đăng ký với cơ quan chức năng ở 63 tỉnh thành trên cả nƣớc.

Có 3 triệu cá thể ĐVHD thuộc 70 loài đang đƣợc nuôi, trong đó có bốn nhóm loài chính: là trăn, cá sấu, khỉ đuôi dài và rắn các loại. Đồng bằng sông Cửu Long và Đông Nam bộ là hai khu vực nuôi ĐVHD lớn nhất (chiếm 70%), tiếp theo là đồng bằng sông Hồng (20%). Một số khu vực có thể kể đến là Mƣờng Thanh Safari Land thuộc Khu sinh thái Mƣờng Thanh Diễn Lâm đƣợc đánh giá là vƣờn thú lớn nhất khu vực Bắc Trung Bộ với tổng diện tích lên tới 60 ha.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu chăn nuôi động vật hoang dã và quản lý tài nguyên rừng tại Phú Thọ" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp chăn nuôi động vật hoang dã và cách thức quản lý tài nguyên rừng hiệu quả trong khu vực này. Tác giả nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn động vật hoang dã và phát triển bền vững tài nguyên rừng, từ đó góp phần vào việc bảo vệ môi trường và nâng cao đời sống cộng đồng địa phương. Bài viết không chỉ mang lại thông tin hữu ích cho những ai quan tâm đến lĩnh vực này mà còn mở ra hướng đi mới cho các nghiên cứu và ứng dụng trong quản lý tài nguyên thiên nhiên.

Để mở rộng thêm kiến thức của bạn về quản lý tài nguyên và môi trường, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ quản lý tài nguyên và môi trường đánh giá hiệu quả kinh tế và môi trường của rừng trồng keo và bạch đàn trên địa bàn huyện Ba Vì và huyện Thạch Thất thành phố Hà Nội, nơi phân tích hiệu quả của các loại rừng trồng. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý rừng sản xuất trên địa bàn huyện Võ Nhai tỉnh Thái Nguyên cũng sẽ cung cấp thêm thông tin về quản lý rừng sản xuất. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ chuyên ngành quản lý tài nguyên và môi trường tăng cường công tác quản lý tài nguyên rừng trên địa bàn huyện Nông Sơn tỉnh Quảng Nam, để có cái nhìn tổng quát hơn về các biện pháp quản lý tài nguyên rừng tại các địa phương khác.