lời mở đầu và 20 điều khoản, cụ thể như sau: Lời mồ đầu, nêu về mục đích, ý nghĩa của công ưốc. Điểu 1: Khái niệm các thuật ngữ sử dụng trong công ước, như “hệ thông hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá”, "danh mục biểu thuế hải quan”, “danh mục thống kê”, ‘'Ban thư kỹ”, “Hội đồng”, v.v; Điểu 2: Khảng định vị trí, vai trò pháp lý của phụ lục, cấu trúc của phụ lục. 16 Phản loại hảng hóa Điều 3: Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia công ước; Điều 4: Áp dụng từng phần công ước đối với các nưốc đang phắt triển; - Điều 5: Trợ giúp kỹ thuật cho các nưốc đang phát triểĩ£ Điều 6: u ỷ ban về hệ thống hài hoà; Điều 7: Những chức năng của u ỷ ban; Điều 8: Vai trò của Hội đồng; Điều 9: Thụế suất hải qúan; Điều 10: Giải quyết tranh chấp; Điều 11: Tư cách để trỏ thành bên tham gia công ước HS; Điều 12: Quy chê thủ tục để trỗ thành bên tham gia công ưốc; Điều 13: Hiệu lực của công ước; Điều 14: Áp dụng công ưóc tại các khu vực lãnh thổ phụ thuộc; Điều 15: Rút khỏi công ước; Điều 16: Quy chế sửa đổi, bổ sung công ước; Điều 17: Những quyền hạn của các bên tham gia công ước đôi với hệ thống hài hoà; Điều 18:'Bảo lưu; Điều 19: Những thông báo của Tổng thư ký; Điều 20: Đăng ký lưu chiểu tại Liên hợp quốc. Phần phụ lục của công ước là một bộ phận không thể tách rời của Công ưốc, gồm 3 phần chính, thường được gọi là “Hệ thống hài hoà mô tả và mã hoá hàng hoá” hay “Danh mục HS” và thường viết tắ t là HS.
Ba phần đó là: (i) Các quy tắc tổng quát giải thích việc phân loại hàng hoá xuất nhập khẩu theo HS; (ii) Chú giải phần, chương, phân nhóm; (iii) Mã sô" nhóm và phân nhóm. Cơ quan điều hành Công ưởc HS Để Công ưốc được thực thi, sửa đổi, bổ sung cơ quan điều 17 Kỹ ỉhuật nghiệp vụ hải quan và xuất nhập khẩu hành công ước HS gồm Hội đồng hợp tác hải quan (ngày nay gọi là Tổ chức Hải quan th ế giới, viết tắt là WCO theo tiếng anh và OMD theo tiếng Pháp), Ưỷ^bạn HS và các nưóc thành viên (hay còn gọi là các bên tham gia Công ưốc HS). (1) Hội đồng hợp tác hải quan được thành lập theo Công ước thành lập Hội đồng hợp tác hải quan ký tại Bruxel ngày 15/12/1950ẻ Hội đồng bắt đầu hoạt động từ ngày 04/11/1952, đến năm 1994 được đổi tên thành Tổ chức Hải quan th ế giới. Vai trò của Hội đồng được quy định tại Điều 8 của Cộng ước.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 của Công ước, Hội đồng có nhiệm vụ: • Xem xét đề nghị sửa đổi Công ước do u ỷ ban HS đệ trình, các kiến nghị của các nước thành viên đối với việc rà soát sửa đổi Công ước cũng như Danh mục HS; - Thông qua các chú giải chi tiết, ý kiến phân loại, các văn bản liên quan đến HS. do u ỷ ban HS đệ trình nhằm đảm bảo thông nhất cách hiểu và áp dụng HS. (2) u ỷ ban HS gồm đại diện của các quốc gia thành viên, họp thường kỳ một năm 2 lần do Tổng thư ký điều hành. Tổng thư ký có 3 Uỷ ban giúp việc: Tiểu ban điều hành, Tiểu ban kỹ thuật, Tiểu ban sửa đổi HS).
Theo Điều 7 của Công ưóc, Ưỷ ban HS có chức nảng: - Đề nghị sửa đổi Công ước; - Dự thảo chú giải chi tiết (Explanatory Notes, viết tắ t là E- notes), ý kiến phân loại (Classification Opinions), các kiến nghị khác. Chú giải chi tiết này thường xuyên được cập nhật nhằm đáp ứng với yêu cầu của các nưốc thành viên và phù hợp vối sự thay đổi và phát triển của công nghệ, tập quán thương mại quốc tế và các vân đề xã hội; - Dự thảo các khuyến nghị sửa đổi Công ước; - Tập hợp và phổ biến thông tin, hướng dẫn sử dụng HS cho thành viên của Hội đồng (Tổ chức Hải quan thế giói). 13 Phản loạò hàng hóa - Báo cáo các hoạt động liên quan đến HS cho Hội đồng và các việc ■ khác. * (3) Các nước thành viên ĩả các quốc gia, vừng, lãnh thổ thãm gia ký hoặc gia nhập Công ước.
Theo Điều 3 của Công ước, các nước thành viên có nhiệm vụ: - Xây dựng Danh mục thuế, Danh mục thông kê phù hợp vối Danh mục HS. - Cung cấp công khai số liệuu thống kê hàng hoá xuất nhập khẩu đến cấp 4 sô" hoặc 6 số hoặc chi tiết hơn. - Chi tiết hoá dòng th u ế trên cấp độ 6 sô theo mục đích quốc gia. Trong quá trình phân loạỉ hàng hoá theo HS, có thể phát sinh những trường hợp tranh chấp, bất đồng về kết quả phân loại giữa các nước thành viên, theo quy định tại Điều 10, trưốc hết, các nước thành viên liên quan giải quyết tranh chấp thông qua đàm phán.
Nếu không tự thoả thuận được, tranh chấp sẽ được trình lên Uỷ ban HS để xem xét, nếu các nưốc thành viên vẫn không nhất trí với ý kiến của Uỷ ban thì vấn đề sẽ được đưa lên Hội đồng. Hệ th ô n g h à i h o à m ô tả v à m ã ho á h à n g h o á (hệ th ố n g HS) 1.1 Vai trồ của hệ thống HS Hệ Thống Hài hoà Mô tả và Mã ỉioá hàng hoá còn gọi là Hệ thống hài hoà hay đơn giản là HS là sản phẩm danh pháp quốc tế đứợc sử dụng cho nhiều mục đích khác nhau và do Tổ chức Hải quan Thế giới WCO) ấn hành. Hệ thông bao gồm hơn 5000 nhóm hàng, được mã hoá tới 06 sô', xếp đặt theo cấu trúc pháp lý và lôgích, được thừa nhận bằng những qui tắc rành mạch, rõ ràng nhằm đạt tới sự phân loại thống nhất. Hệ thông được sử dụng trong hơn 200 quốc gia và nền kinh tế, làm cơ sỏ cho việc xây dựng biểu th u ế XNK và thu thập sô' liệu thông kê thương mại quốc tế.
Hđn 98% hàng hoá mua bán trong giao dịch thương mại quốc tế được phân loại theo các điều khoản 19 K ỹ ỉhuật nghiệp vụ hải quan và xuất nhập khẩu và qui tắc của HS. HS góp phần hài hoà thủ tục Hải quan và tập quán thương mại. Theo đó việc trao đổi dữ liệu thương mại phi giấy tờ đã giảm thiểu các chi phí liên quan đến thương mại quốc tế. HS cũng được Chính phủ các nước, các tổ chức quốc tê , các khối tư nhân sử dụng rộrig rãi cho nhiều mục đích khác nhaủ như thực hiện chính sách thuế nội địa, chính sách thương mại, kiểm tra định lượng hàng hoá cần kiểm soát, xác định qui tắc xuất xứ, biểu thuế cước, thốhg kê dịch vụ vận tải, kiểm tra giá, kiểm tra hạn ngạch, biên soạn chế độ kế toán quốc gia và nghiên cứu, phân tích hoạt động kinh tế.
Do đó HS là ngôn ngữ kinh tế thông nhất và là bộ mã chuẩn cho hàng hoá và là một công cụ cần thiết cho thương mại quốc tế. Hệ thống Hài hoà được vận hành theo “Công ước quốc tế về Mô tả Hài hoà và mã hoá hàng hoá”. Việc giải thích chính thức HS được trình bày trong Bộ Chú giảị Chi tiết (gồm 05 tập bằng tiếng Anh và tiếng Pháp) do Tổ chức Hải quan Thế giới xuất bản. Chú giải chi tiết cũng được phát hành bằng dĩa CD-ROM, là phần cơ sỏ dữ liệu hàng hoá giúp cho việc phân loại hàng hoá thẹo HS đôì với hơn hai trăm ngàn mặt hàng được giao dịch buôn bán quốc tê hiện nay.
Tổ chứe Hải quan Thế giới đảm nhiệm việc quản lý HS. Công việc này bao gồm những biện pháp bảo đảm cách hiểu thông nhất vế HS và cập nhật theo đinh kỳ các thông tin mới nhất theo hướng phát triển của công nghệ và sự thay đổi mẫu mã thương mại. Tổ chức Hải quan Thế giới quản lý qui trình này thông qua Ưỷ ban Hệ thống hài hoà (đại diện cho các thành viên tham gia Công ưốc HS), uỷ ban xem xét các nội dung chính sách, đưa ra quyết định về các vấn đề phân loại, giải quyết tranh chấp và, chuẩn bị cập nhật sửa đổi bố sung Chú giải Chi tiết thẽo định kỳ từ 4-6 năm. Những quyết định liên quan đến,cách hiểu và áp dụng Hệ thông Hài hoà như các quyết định phân loại hay những sửa đổi Chú giải Chi tiết hoặc Bộ tập hợp các ý kiến phân loại sẽ có hiệu lực sau hai tháng kể từ khi Uỷ ban HS phê chuẩn.
Việc này được phản ảnh trong Phụ lục sửa đổi của Các ấn phẩm của WCO. 20 Phản Bọại hàng hóa Ngay từ đầu những năm 1970, một nhóm chuyên gia cao cấp của Tổ chức Hải quan thế giới tại Brucxen đã đưa ra một hệ thông danh-mục hàng hoá, bảo đảm cho các quốc gia .quản lý xuất nhập hàng hoá qua biên giới. Thiếu Danh mục này, nhiều văn bản qui phạm pháp luật quốc gia và các công ước quốc tế đều không thể thực thi được và sự không rõ ràng sẽ vây quanh các cuộc đàm phán thương mại song phương và đa phương. Khi thương mại quốc tế trỏ nên phức tạp hơn, chính phủ các nước trên thế giới đòi hỏi những hiệu quả lớn hơn trong công tác quản lý của ngành Hải quan của nước mình, các quốc gia nốì tiếp nhau hưống về Hệ thống mô tả hài hoà và mã hoá hàng hoá củạ WCO như một trụ cột trung tâm để giải quyết các vấn đề về thuế khoá và các qui định pháp lý về tuâri thủ pháp luật.
Tính phức tạp cửã thương mại quốc tế và sự gia tăng của tội phạm xuyên quốc gia đã cho thấy HS là một công cụ đa năng - như một con dao quân dụng Thuỵ sỹ - qui định nhiều hơn việc bảo đảm rằng cái mà được gọi là “quả táo” ỏ quốc gia này thì khổng thể trở thành “quả cam” ỏ quốc gia khác được. Đối vổi một công chức hải quan tại cửa khẩu kiểm tra một lố hàng vận tải đường bộ thì HS đưa ra những thông tin sống động giúp hải quan khi thực thi nhịệm vụ của mình. Thiếu sự phân loại mã hàng theo HS sống động như thế, sự nhầm lẫn rất dễ xảy ra, kéo theo là sự kiểm tra tràn lan và chậm trễ. Đối vối các công chức khác khi phải đương đầu với một số lượng lớn hàng hoá vận tải bằng đường biển, đường hàng không và bưu phẩm chuyển phát nhanh thì HS là một công cụ quan trọng sống còn, là một phầri không thể thiếu.