Khóa luận kỹ thuật chụp và đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính trên bệnh nhân chấn thương gan tại bệnh viện hữu nghị việt đức

Luận văn tốt nghiệp y tế nghiên cứu kỹ thuật chụp và đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính trên bệnh nhân chấn thương gan tại bệnh viện hữu, điều tra thực trạng, phân tích số liệu, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Kỹ thuật hình ảnh y học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

khóa luận tốt nghiệp

2023

57
3
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Giải phẫu gan

1.2. Sự phân chia thùy gan và hệ thống mạch máu của gan

1.3. Giải phẫu trên CLVT

1.4. Bệnh lý chấn thương gan

1.5. Triệu chứng lâm sàng

1.6. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh

1.7. Phân độ chấn thương gan

1.8. Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2. CHƯƠNG 2: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1. Đối tượng, thời gian, địa điểm nghiên cứu

2.2. Địa điểm nghiên cứu

2.3. Thời gian nghiên cứu

2.4. Đối tượng nghiên cứu

2.5. Phương pháp nghiên cứu

2.6. Thiết kế nghiên cứu

2.7. Phương pháp thu thập thông tin

2.8. Các bước tiến hành

2.9. Các biến số nghiên cứu

2.10. Phân tích và xử lý số liệu

2.11. Đạo đức trong nghiên cứu

3. CHƯƠNG 3: KẾT QUẢ

3.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

3.2. Nguyên nhân chấn thương

3.3. Kỹ thuật chụp CLVT ổ bụng trong CTG

3.4. Loại máy chụp CLVT

3.5. Số lượng thì chụp CLVT

3.6. Thời gian bắt đầu chụp sau tiêm thuốc cản quang

3.7. Loại thuốc cản quang được sử dụng trong CLVT

3.8. Liều bức xạ theo số thì chụp CLVT trong CTG

3.9. Đặc điểm hình ảnh CTG trên CLVT

4. CHƯƠNG 4: BÀN LUẬN

4.1. Đặc điểm chung của đối tượng nghiên cứu

4.2. Đặc điểm về kỹ thuật chụp

4.3. Cơ chế và các tổn thương phối hợp

Tóm tắt

I. Tổng quan về kỹ thuật chụp hình ảnh cắt lớp vi tính cho bệnh nhân chấn thương gan

Kỹ thuật chụp hình ảnh cắt lớp vi tính (CLVT) đã trở thành một công cụ quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân chấn thương gan. Gan là một trong những cơ quan dễ bị tổn thương trong các trường hợp chấn thương bụng kín. Việc áp dụng CLVT giúp phát hiện sớm và chính xác các tổn thương, từ đó đưa ra phương pháp điều trị kịp thời. Nghiên cứu này sẽ trình bày chi tiết về kỹ thuật chụp và đặc điểm hình ảnh của CLVT trên bệnh nhân chấn thương gan.

1.1. Giới thiệu về chấn thương gan và tầm quan trọng của CLVT

Chấn thương gan là một trong những nguyên nhân chính gây tử vong trong các trường hợp chấn thương bụng. CLVT cung cấp hình ảnh rõ nét về cấu trúc gan và các tổn thương liên quan, giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị chính xác.

1.2. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiện nay

Ngoài CLVT, các phương pháp như siêu âm và X-quang cũng được sử dụng để chẩn đoán chấn thương gan. Tuy nhiên, CLVT vẫn được ưu tiên nhờ vào độ chính xác và khả năng cung cấp thông tin chi tiết về tình trạng bệnh nhân.

II. Vấn đề và thách thức trong chẩn đoán chấn thương gan

Chẩn đoán chấn thương gan gặp nhiều thách thức do triệu chứng lâm sàng không rõ ràng. Nhiều bệnh nhân có thể không biểu hiện triệu chứng ngay lập tức, dẫn đến việc chẩn đoán muộn. Điều này có thể gây ra những hậu quả nghiêm trọng, bao gồm cả tử vong. Việc sử dụng CLVT giúp giảm thiểu rủi ro này.

2.1. Triệu chứng lâm sàng của chấn thương gan

Bệnh nhân có thể gặp phải các triệu chứng như đau bụng, sốc chấn thương, và các dấu hiệu xuất huyết nội. Việc nhận diện sớm các triệu chứng này là rất quan trọng để có thể chỉ định chụp CLVT kịp thời.

2.2. Những khó khăn trong việc chẩn đoán

Nhiều bệnh nhân có thể không có triệu chứng rõ ràng, dẫn đến việc chẩn đoán chấn thương gan bị bỏ sót. Điều này đòi hỏi bác sĩ phải có kinh nghiệm và sử dụng các phương pháp chẩn đoán hình ảnh hiệu quả như CLVT.

III. Phương pháp chụp hình ảnh cắt lớp vi tính cho bệnh nhân chấn thương gan

Kỹ thuật chụp CLVT cho bệnh nhân chấn thương gan bao gồm nhiều bước quan trọng. Từ việc chuẩn bị bệnh nhân đến quy trình chụp và xử lý hình ảnh, mỗi bước đều cần được thực hiện cẩn thận để đảm bảo chất lượng hình ảnh và độ chính xác trong chẩn đoán.

3.1. Quy trình chuẩn bị bệnh nhân trước khi chụp

Bệnh nhân cần được giải thích rõ về quy trình chụp CLVT, bao gồm việc nhịn ăn và uống trước khi chụp. Việc này giúp giảm thiểu rủi ro và đảm bảo hình ảnh thu được có chất lượng tốt nhất.

3.2. Kỹ thuật chụp CLVT và các yếu tố ảnh hưởng

Kỹ thuật viên cần đảm bảo rằng bệnh nhân nằm đúng tư thế và thực hiện các bước chụp một cách chính xác. Các yếu tố như liều thuốc cản quang và thời gian chụp cũng ảnh hưởng đến chất lượng hình ảnh.

IV. Đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính trên bệnh nhân chấn thương gan

Hình ảnh CLVT cho thấy rõ các tổn thương trong gan, bao gồm tụ máu, rách nhu mô và các tổn thương mạch máu. Việc phân tích hình ảnh giúp bác sĩ đánh giá mức độ chấn thương và đưa ra phương pháp điều trị phù hợp.

4.1. Các loại tổn thương thường gặp trong CLVT

Các tổn thương như tụ máu dưới bao gan và rách nhu mô gan là những hình ảnh thường gặp trong CLVT. Việc nhận diện chính xác các tổn thương này là rất quan trọng để quyết định phương pháp điều trị.

4.2. Đánh giá mức độ chấn thương qua hình ảnh

CLVT cho phép đánh giá mức độ chấn thương gan theo các tiêu chí phân độ. Điều này giúp bác sĩ xác định được phương pháp điều trị bảo tồn hay phẫu thuật cho bệnh nhân.

V. Ứng dụng thực tiễn và kết quả nghiên cứu về CLVT trong chấn thương gan

Nghiên cứu về kỹ thuật chụp CLVT trên bệnh nhân chấn thương gan đã chỉ ra rằng phương pháp này không chỉ giúp chẩn đoán chính xác mà còn hỗ trợ theo dõi tình trạng bệnh nhân sau điều trị. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ phát hiện tổn thương cao và giảm thiểu tỷ lệ tử vong.

5.1. Kết quả nghiên cứu về hiệu quả của CLVT

Nghiên cứu cho thấy CLVT có độ nhạy cao trong việc phát hiện các tổn thương gan, giúp bác sĩ đưa ra quyết định điều trị kịp thời và chính xác.

5.2. Ứng dụng CLVT trong thực tiễn lâm sàng

CLVT đã trở thành phương pháp chẩn đoán hình ảnh chủ yếu trong các trường hợp chấn thương gan, giúp cải thiện kết quả điều trị và giảm thiểu biến chứng cho bệnh nhân.

VI. Kết luận và tương lai của kỹ thuật chụp hình ảnh cắt lớp vi tính

Kỹ thuật chụp hình ảnh cắt lớp vi tính đã chứng minh được vai trò quan trọng trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân chấn thương gan. Tương lai của kỹ thuật này hứa hẹn sẽ có nhiều cải tiến về công nghệ, giúp nâng cao độ chính xác và hiệu quả trong chẩn đoán.

6.1. Tương lai của kỹ thuật CLVT trong y học

Với sự phát triển của công nghệ, kỹ thuật CLVT sẽ ngày càng được cải tiến, giúp nâng cao chất lượng hình ảnh và giảm thiểu liều bức xạ cho bệnh nhân.

6.2. Những nghiên cứu tiếp theo cần thực hiện

Cần có thêm nhiều nghiên cứu để đánh giá hiệu quả của CLVT trong các trường hợp chấn thương gan phức tạp, từ đó cải thiện quy trình chẩn đoán và điều trị.

14/07/2025
Khóa luận kỹ thuật chụp và đặc điểm hình ảnh cắt lớp vi tính trên bệnh nhân chấn thương gan tại bệnh viện hữu nghị việt đức

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN 1. Giải phẫu gan. Gan là một cơ quan hình nêm, không đều, nằm bên dưới cơ hoành ở góc phần tư phía trên bên phải của khoang bụng, chiếm hầu hết vùng hạ sườn phải và vùng thượng vị và còn lấn sang tận vùng hạ sườn trái. Nó phần lớn được bao phủ bởi các sụn sườn.

Gan được tạo thành từ một số đơn vị chức năng gọi là tiểu thùy, do đó có thể được chia thành các đơn vị nhỏ hơn gọi là xoang. Toàn bộ gan được bao phủ bởi một bao xơ được gọi là nang Glisson, tạo thành lớp bao phủ gan trong cùng. Gan được giữ tại chỗ bởi tĩnh mạch chủ dưới cùng các tĩnh mạch gan, dây chằng hoành – gan (là lớp mô liên kết dính vùng trần của gan với cơ hoành), dây chằng vành và dây chằng liềm.1: Giải phẫu gan mặt hoành (nhìn trước) [3]. 9 Gan được mô tả là có 2 bề mặt, mặt hoành và mặt tạng, được phân định rõ ràng về phía trước bởi bờ dưới, ranh giới giữa hai mặt ở phía sau không rõ: • Mặt hoành: Mặt hoành của gan lồi ra trước, lên trên, sang phải và ra sau, áp sát vào cơ hoành, các chiều cong này là cơ sở để chia mặt hoành thành 4 phần: trước, trên, phải và sau.

Phần trước của mặt hoành có một vùng nằm sau thành bụng trước, trong góc dưới ức. Phần trên của mặt hoành có ấn tim tương ứng với vị trí của tim trên cơ hoành. Phần sau của mặt hoành có một vùng hình tam giác không được phúc mạc phủ mà dính với cơ hoành bằng mô liên kết. Vùng này được gọi là vùng trần, được giới hạn ở trên và dưới bởi các lá của dây chằng vành và ở bên trái bới rãnh tĩnh mạch chủ dưới.

Ở bên trái của rãnh này là mặt sau của thùy đuôi, thùy đuôi được ngăn cách thùy trái của gan bằng khe dây chằng tĩnh mạch. Dây chằng tĩnh mạch, một tàn tích của ống tĩnh mạch thời kỳ phôi thai, nằm trong khe này. Phần phải được vòm hoành phải ngăn cách với phổi và màng phổi phải và các xương sườn VII – IX; ở 1/3 dưới của phân này, cơ hoành tiếp xúc thẳng với thành ngực mà không bị ngách sườn – hoành của màng phổi ngăn cách. Dây chằng liêm chia mặt hoành thành 2 thùy, thùy trái và thùy phải.

Qua cơ hoành, măt hoành liên quan với ổ màng phổi và ổ ngoại tâm mạc. • Mặt tạng: mặt tạng hướng xuống dưới, ra sau và sang trái, mang vết ấn của nhiều tạng bụng liền kề. Mặt này được phúc mạc phủ, trừ ở cửa gan, khe dây chằng tròn và hố túi mật. Khe dây chằng tròn từ khuyết dây chằng tròn ở bờ dưới gan chạy về phía sau – trên tới đầu trái của cửa gan và đầu dưới của khe dây chằng tĩnh mạch.

Sàn khe chứa dây chằng tròn, một tàn tích của tĩnh mạch rốn trái. Hố túi mật đi từ bờ dưới gan tới đầu phải của cửa gan. Cửa gan, một khe ngang sâu nối đầu sau – trên của hố túi mật và khe dây chằng tròn, là nơi mà các thành phần của cuống gan đi vào hoặc ra khỏi gan. Cửa gan, hố túi mật và khe dây chằng tròn cùng với khe dây chằng tĩnh mạch và rãnh tĩnh mạch chủ dưới là những mốc giới hạn ngăn cách 4 thùy ở mặt dưới: phải, trái, vuông và đuôi.

Thùy phải nằm ở bên phải hố túi mật và rãnh tĩnh mạch chủ dưới. Vùng này có các vết ấn sau: ấn đại trang, ấn thận, ấn tá tràng, ấn thượng thận. Thùy trái nằm ở bên trái các khe của dây chằng tròn và dây chằng tĩnh mạch. Tại đây có hai ấn liên tiếp nhau là ấn thực quản và ấn dạ dày.

Ở bên phải ấn dạ 10 dày là củ mạc nối. Hai thùy còn lại được ngăn cách nhau bởi cửa gan: thùy vuông ở trước và thùy đuôi ở sau [4]. Sự phân chia thùy gan và hệ thống mạch máu của gan. Couinaud (1957) đã phân chia gan thành 8 phân thùy độc lập.

Mỗi phân thùy có đường dẫn máu vào và ra và đường dẫn mật riêng. Ở trung tâm của mỗi phân thùy có một nhánh của tĩnh mạch cửa, động mạch gan và ống mật. Ở ngoại biên mỗi phân thùy có một nhánh mạch máu chảy ra, đổ vào tĩnh mạch trên gan. Mỗi phân thùy có thể được cắt bỏ riêng biệt mà không ảnh hưởng đến chức năng và sự sống còn của những phân thùy còn lại.

Phân thùy gan theo Couinaud là cơ sở cho ngành giải phẫu gan hiện đại. Gan được chia thành hai thùy là gan trái và gan phải. Tĩnh mạch trên gan phải chia gan phải làm hai phân thùy là phân thùy trước và phân thùy sau. Tĩnh mạch trên gan trái chia gan trái làm hai phân thùy là phân thùy giữa và phân thùy bên.

Tĩnh mạch cửa chia gan thành nhóm các phân thùy trên và dưới. Từ nhánh phải hay trái của tĩnh mạch cửa có các nhánh đi lên hay hướng xuống để vào trung tâm của mỗi phân thùy. Phân thùy gan theo Couinaud [5]. Có 8 phân thùy gan.

Các phân thùy được đánh số theo chiều kim đồng hồ. Phân thùy 4 đôi khi được chia thành 4a và 4b theo Bismuth. Giải phẫu trên CLVT. Các lát cắt phía cao thường gặp các cấu trúc giải phẫu: gan, dạ dày, lách, động mạch chủ bụng, tĩnh mạch chủ dưới.

Tĩnh mạch trên gan giữa chia gan thành gan phải và gan trái. Tĩnh mạch trên gan trái phân gan thành các phân thùy giữa (hạ phân thùy IV) và bên (hạ phân thùy II và III). Tĩnh mạch trên gan phải phân gan thành các phân thùy sau (hạ phân thùy VI và VII) và trước (hạ phân thùy V và VIII). Phân thùy đuôi (hạ phân thùy I).

Các lát cắt phần thấp của gan thường gặp: gan, lách, tụy, thận, động – tĩnh mạch chủ bụng, động mạch mạc treo tràng trên, tĩnh mạch lách. Giải phẫu CLVT gan [6]. Bệnh lý chấn thương gan. Nguyên nhân gây chấn thương gan có thể do va đập (VD: Va chạm xe cơ giới, ngã, va đập trực tiếp, v.) hoặc chấn thương xuyên thấu (VD: Đạn, đâm,.), cũng có thể là do điều trị (VD như sinh thiết gan qua da).

Những bệnh nhân có vết rách gan rộng kèm với một tràn khí phúc mạc có thể xảy ra một quá trình phản ứng viêm toàn thân tương tự như phản ứng viêm ở bệnh nhân nhiễm khuẩn huyết. Quá trình này thường xảy ra sau 2 - 5 ngày kể từ khi bị tổn thương. Những dấu hiệu thông thường trong bệnh cảnh này bao gồm: sốt, tăng bạch cầu, nhịp tim nhanh, căng trướng bụng, tắc ruột, và hạ huyết áp vừa phải. 12 Hội chứng nhiễm khuẩn huyết hay phản ứng viêm hệ thống là một phản ứng viêm trong tuần hoàn, những thay đổi mức chống oxy hóa ở mô, và những gen phản úng với stress nhanh.

Cơ thể thiết lập một phản ứng miễn dịch để chống lại sự chấn thương và stress bằng cách giải phóng những cytokin tiền viêm và thay đổi quy trình tổng hợp ở gan. Pacher và Ivatury cho rằng: Khi mật, máu được giải phóng vào khoang phúc mạc sau CTG, hemoglobin thoát ra từ tế bào vào khoang phúc mạc làm gia tăng sự kích hoạt sinh học nội độc tố Lipopolysaccharide, gia tăng độc tố vi khuẩn, và ức chế hóa hướng động bạch cầu, thực bào, và kích hoạt đại thực bào. Bản thân máu là môi trường tốt cho vi khuẩn phát triển [7]. Theo Tôn Thất Bách: khi sốc mất máu hoặc sốc đa chấn thương sẽ làm giảm tưới máu gan, gây nên tình trạng gan sốc, ức chế chức năng gan dẫn đến rối loạn đông máu và kiềm toan, tác động trở lại làm nặng thêm tình trạng sốc.

Những trường hợp tụ máu dưới bao gan, nhu mô gan bị chèn sẽ dẫn đến tình trạng suy gan cấp [8]. Triệu chứng lâm sàng. Triệu chứng cơ năng. Bệnh nhân đau khi ấn vào xương sườn bên phải.

Đau lan lên phía trên vai, nửa bụng bên phải có phản ứng khi ấn vào, bụng chướng dần. Triệu chứng thực thể. Gan chấn thương thường có biểu hiện như có các vết bầm tím, xây xát ở bụng ngực bên phải. Có thể gãy các xương sường 8,9,10 ở cung sườn bên phải.

Triệu chứng toàn thân. Bệnh nhân bị chấn thương ở mức độ nặng thường có biểu hiện như sốc chấn thương và giảm khối lượng tuần hoàn (da, niêm mạc nhợt nhạt, có thể ngất hoặc choáng ngất, khó bắt hoặc không bắt được mạch), buồn nôn, bí trung đại tiện. Xét nghiệm máu Xét nghiệm số lượng hồng cầu trong chấn thương gan là một trong những xét nghiệm quan trọng góp phần cho chẩn đoán khi lâm sàng đã rõ hoặc chưa rõ. Theo Way L W: trong chấn thương gan tốc độ mất máu thường diễn ra nhanh đến nỗi các biểu hiện mất máu không tương xứng kịp.

Theo như nhận 13 xét của Bermann (1957) về các trường hợp chấn thương bụng kín, ông cho rằng nếu bạch cầu >15.000/ml mà bệnh nhân không có sốt thì phải nghi ngờ có xuất huyết nội. Ngoài ra trong chấn thương gan còn có transaminaza tăng do huỷ hoại tế bào gan, tỷ prothrombin giảm, tốc độ lắng máu tăng và bilirubin hơi tăng [9,10]. Các phương pháp chẩn đoán hình ảnh. Xquang bụng thẳng không chuẩn bị: Quy trình kỹ thuật chụp XQ: • Kỹ thuật chụp X quang ổ bụng: - Đối với trẻ em dùng cỡ phim 24x30cm, người lớn cỡ phim 30x40cm.

Phim và lưới chống mờ đặt dọc trên giá treo phim. - Bệnh nhân đứng trước giá treo phim. Bụng áp sát vào phim, 2 tay vòng ra trước ôm lấy giá treo phim. - Điều chỉnh cột sống thắt lưng vào giữa phim theo trục dọc.

Đặt cạnh dưới cassette từ khớ mu trở lên. - Tia trung tâm: bóng Xquang chiếu ngang vuông góc với phim khu trú vào trên điểm giữa đường nối hai mào chậu 3 khoát ngón tay (khoảng 5cm). - Thông số chụp: 80Kv,30mAs, 100cm, có lưới chống mờ. • Tiêu chuẩn kỹ thuật: - Thấy được toàn bộ ổ bụng từ bờ trên khớp mu đến vòm hoành.

- Cân đối: cột sống thắt lưng cân đối ở đường giữa. Xương sườn, cánh chậu và khớp háng cân đối ở ngoại vi phim. - Không di động: bờ xương sườn, cơ hoành và bờ bóng khí nét. - Thấy được phần mềm: thấy rõ đường bờ của tạng gan, thận và bờ ngoài cơ thắt lưng.

- Phim phải có tên, dấu trái phải, ngày tháng năm chụp. Đặc điểm hình ảnh Xquang ổ bụng: 14 Chủ yếu để phát hiện những tổn thương phối hợp trong ổ bụng như thủng tạng rỗng phối hợp, hoặc phát hiện các tổn thương ngoài bụng như tổn thương lồng ngữ, cột sống, gãy xương, .

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề Kỹ Thuật Chụp Hình Ảnh Cắt Lớp Vi Tính Đối Với Bệnh Nhân Chấn Thương Gan cung cấp cái nhìn sâu sắc về các phương pháp chụp cắt lớp vi tính (CT) trong chẩn đoán và điều trị bệnh nhân bị chấn thương gan. Tài liệu này không chỉ giải thích các kỹ thuật chụp hình ảnh mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc phát hiện sớm và chính xác các tổn thương gan, từ đó giúp cải thiện kết quả điều trị cho bệnh nhân.

Để mở rộng kiến thức của bạn về lĩnh vực này, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Khoa luan tot nghiep ky thuat hinh anh ky thuat chup va dac diem hinh anh cua cat lop vi tinh trong chan doan chan thuong lach tai mot so benh vien o ha noi, nơi trình bày chi tiết về kỹ thuật chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán chấn thương lách. Ngoài ra, tài liệu Khóa luận kỹ thuật chụp và đặc điểm hình ảnh cộng hưởng từ trên bệnh nhân nhồi máu não giai đoạn cấp tính tại bệnh viện bạch mai cũng sẽ cung cấp cho bạn những thông tin bổ ích về hình ảnh cộng hưởng từ trong chẩn đoán bệnh lý não. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn toàn diện hơn về các kỹ thuật hình ảnh y tế và ứng dụng của chúng trong chẩn đoán bệnh.