Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Lách là một tạng đặc nằm sâu trong ô dưới vòm hoành trái, giữ vai trò quan trọng trong việc tạo máu thời kỳ bào thai, phá hủy hồng cầu già, lọc và thực bào tế bào bất thường, dự trữ tiểu cầu và tham gia đáp ứng miễn dịch. Do đặc điểm giải phẫu có vỏ bọc mỏng và hệ thống mạch máu phong phú (chiếm tới 5% cung lượng tim), lách là cơ quan dễ bị tổn thương nhất trong các trường hợp chấn thương bụng kín. Theo số liệu thống kê tại Hoa Kỳ được trích dẫn bởi tác giả, khoảng 25% trong số 1.200 bệnh nhân chấn thương bụng kín hàng năm tại các trung tâm cấp cứu độ I bị tổn thương lách. Tại Việt Nam, thống kê tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức ghi nhận trong giai đoạn 1997–1999 có 225/1.141 trường hợp chấn thương bụng kín là vỡ lách; giai đoạn 2001–2003, vỡ lách chiếm 31,8% trong tổng số 132 ca phẫu thuật tạng đặc do chấn thương bụng kín.

Trong thực hành lâm sàng, việc thăm khám chẩn đoán chấn thương lách gặp nhiều khó khăn do dấu hiệu nghèo nàn, dễ bị che lấp bởi các tổn thương phối hợp như chấn thương sọ não hay ngực bụng. X-quang bụng không chuẩn bị chỉ cung cấp các dấu hiệu gợi ý gián tiếp và xuất hiện muộn. Siêu âm có ưu thế không xâm lấn nhưng dễ bỏ sót tổn thương ở bệnh nhân chướng hơi, tràn khí dưới da hoặc bộc lộ vết thương thành bụng. Do đó, chụp cắt lớp vi tính (CLVT) đa dãy có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch trở thành phương thức chẩn đoán hình ảnh tiêu chuẩn giúp xác định vị trí, mức độ dập rách nhu mô, tình trạng tụ máu và tổn thương mạch máu lách. Tuy nhiên, các protocol kỹ thuật và đặc điểm hình ảnh trên các hệ thống máy khác nhau vẫn cần được tổng kết cụ thể. Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Anh tập trung giải quyết hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:

  1. Đánh giá kỹ thuật chụp của cắt lớp vi tính trong chẩn đoán chấn thương lách.
  2. Mô tả đặc điểm hình ảnh của chụp cắt lớp vi tính trong chẩn đoán chấn thương lách.

Đối tượng nghiên cứu gồm 45 bệnh nhân được chẩn đoán chấn thương lách, được chụp CLVT ổ bụng có tiêm thuốc cản quang và điều trị tại Bệnh viện E và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức trong khoảng thời gian từ tháng 02/2023 đến hết tháng 05/2023.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khung lý thuyết của đề tài dựa trên cấu trúc giải phẫu đại thể của lách, sinh lý bệnh học chảy máu ổ bụng và hệ thống phân loại chấn thương lách của Hiệp hội Phẫu thuật Chấn thương Hoa Kỳ (AAST – American Association for the Surgery of Trauma, sửa đổi năm 2018). Thang phân loại AAST 2018 phân chia chấn thương lách từ độ I đến độ V, trong đó bổ sung các tiêu chí về chấn thương mạch máu (giả phình động mạch, rò động tĩnh mạch, thoát thuốc cản quang hoạt động). Cơ sở kỹ thuật hình ảnh dựa trên thang đo tỷ trọng tia X (đơn vị Hounsfield - HU) để nhận định dịch máu, máu tụ, đường rách và mức độ ngấm thuốc của nhu mô lách trước và sau tiêm thuốc cản quang theo các thì quét.

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang, thu thập số liệu hồi cứu. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được thực hiện trên 45 bệnh nhân thỏa mãn các tiêu chuẩn: có chẩn đoán chấn thương lách, được chụp CLVT ổ bụng có tiêm thuốc cản quang tĩnh mạch và hồ sơ bệnh án, hệ thống lưu trữ PACS đầy đủ dữ liệu. Nghiên cứu loại trừ các trường hợp hồ sơ thiếu hình ảnh hoặc bệnh nhân có phẫu thuật trong vòng 1 tháng trước đó gây tổn thương do can thiệp y khoa.

Về phương tiện kỹ thuật, đề tài khảo sát trên hai hệ thống máy CLVT đa dãy: máy Siemens Somatom Perspective 64 dãy (tại Bệnh viện E) và máy GE Optima CT540 16 dãy (tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức). Thuốc cản quang sử dụng gồm Ultravist 370 mgI/ml (chứa 0,77 g/ml Iopromide) và Omnipaque 300 mgI/ml (chứa Iohexol hàm lượng iod 300 mg/ml), tiêm qua máy bơm điện chuyên dụng với liều lượng 1,5–2,0 ml/kg cân nặng, tốc độ tiêm 3,5 ml/s.

Quy trình chụp gồm 4 pha:

  • Thì trước tiêm (chụp định vị topogram hướng coronal, đo tỷ trọng nền);
  • Thì động mạch (quét ở giây 25–30 hoặc định vị bằng kỹ thuật Bolus tracking);
  • Thì tĩnh mạch (quét ở giây 60–70 để đánh giá mức độ thải thuốc và bộc lộ đường vỡ nhu mô);
  • Thì muộn (quét sau 5–7 phút đánh giá sự thoát thuốc qua hệ bài xuất). Độ dày lớp cắt ban đầu là 5 mm, sau đó tái tạo lát mỏng 0,6 mm hoặc 1 mm. Số liệu được quản lý, mã hóa và phân tích thống kê y học.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Tổng quan tài liệu

Chương I hệ thống hóa các tài liệu nghiên cứu trong và ngoài nước về chấn thương lách và ứng dụng chẩn đoán hình ảnh. Tác giả trình bày chi tiết giải phẫu đại thể của lách (kích thước trung bình dài 18 cm, rộng 8 cm, dày 4 cm, nặng khoảng 200 gram; được cấp máu bởi động mạch lách phân nhánh thành 2 thùy ở 88% trường hợp, 3 thùy ở 12% trường hợp; chia từ 4 đến 5 phân thùy), vị trí đối chiếu thành ngực (dọc xương sườn 10 từ sườn 8 đến 11). Chương này phân tích cơ chế chấn thương trực tiếp do va đập hạ sườn trái và cơ chế gián tiếp do giảm tốc làm rách cuống lách.

Nội dung tổng quan cũng phân định rõ giá trị và hạn chế của các phương pháp cận lâm sàng: xét nghiệm máu đánh giá mức độ thiếu máu theo huyết sắc tố, chọc dò ổ bụng, X-quang bụng không chuẩn bị, siêu âm và cộng hưởng từ (MRI). Tác giả làm rõ bảng phân độ AAST 2018 từ độ I (tụ máu dưới bao <10% diện tích, rách sâu <1 cm) đến độ V (vỡ nát lách hoàn toàn hoặc tổn thương mạch máu gây chảy máu hoạt động vượt khỏi bao lách vào khoang phúc mạc). Đồng thời, chương này tóm tắt các xu hướng xử trí hiện đại: điều trị bảo tồn không mổ cho bệnh nhân huyết động ổn định, can thiệp nút mạch kiểm soát tổn thương mạch máu và phẫu thuật cắt lách (bán phần hoặc toàn phần) khi có sốc mất máu không hồi phục hoặc viêm phúc mạc.

Chương II: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu

Chương II mô tả chi tiết phương pháp nghiên cứu mô tả cắt ngang hồi cứu trên 45 bệnh nhân tại Bệnh viện E và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức từ tháng 02/2023 đến tháng 05/2023. Tác giả trình bày tường minh tiêu chuẩn chọn bệnh, tiêu chuẩn loại trừ, quy trình chuẩn bị trang thiết bị y tế (máy bơm điện, kim tiêm, hộp chống sốc, thuốc đối quang), chuẩn bị bệnh nhân (tháo kim loại, nín thở, bất động tay qua đầu).

Quy trình kỹ thuật được chuẩn hóa với các thông số chụp CLVT ổ bụng, so sánh protocol giữa Bệnh viện E (sử dụng máy Siemens 64 dãy) và Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (sử dụng máy GE 16 dãy). Đặc biệt, chương này mô tả chi tiết kỹ thuật Bolus tracking: đặt đường theo dõi (monitoring) dưới ngã ba khí phế quản, chụp liều thấp lát cắt 5 mm, đặt ROI trong lòng động mạch chủ. Tại Bệnh viện E, kỹ thuật viên cài đặt ngưỡng tỷ trọng kích hoạt (trigger) tự động từ 100–130 HU với thời gian trễ 5–7 giây; trong khi tại Bệnh viện Việt Đức, việc bắt thì động mạch không cài trigger tự động mà phụ thuộc vào thời gian trễ cố định (25–30 giây) kết hợp quan sát bằng mắt. Cuối chương là danh mục các biến số nghiên cứu, kỹ thuật đo độ HU, kiểm soát sai số và các cam kết về đạo đức nghiên cứu y học theo quy định của Bộ Y tế.

Chương III: Kết quả

Chương III trình bày toàn bộ số liệu thu thập được qua 10 bảng số liệu, 3 biểu đồ và các hình ảnh minh họa ca bệnh cụ thể:

  • Đặc điểm chung: Nam giới chiếm 39/45 bệnh nhân (86,7%), nữ giới chiếm 6/45 bệnh nhân (13,3%), tỷ lệ nam/nữ đạt 6,5/1. Độ tuổi từ 12 đến 69; nhóm tuổi 16–60 tuổi chiếm đại đa số với 95,6% (43/45 bệnh nhân); nhóm dưới 16 tuổi và trên 60 tuổi đều chiếm tỷ lệ 2,2% (1 bệnh nhân mỗi nhóm). Nguyên nhân hàng đầu là tai nạn giao thông chiếm 68,9% (31/45), tiếp theo là tai nạn lao động 20,0% (9/45) và tai nạn sinh hoạt 11,1% (5/45).
  • Kỹ thuật chụp CLVT đa dãy: Tỷ lệ bệnh nhân chụp trên máy Siemens 64 dãy là 46,7% (21/45) và trên máy GE 16 dãy là 53,3% (24/45). Tỷ lệ dùng thuốc Ultravist 370 mgI/ml là 53,3% (24/45) và Omnipaque 300 mgI/ml là 46,7% (21/45). Đo tỷ trọng tại động mạch chủ bụng ngang mức động mạch thận ở tốc độ tiêm 3,5 ml/s ghi nhận: 60,0% (27/45) đạt dưới 300 HU và 40,0% (18/45) đạt từ 300 HU trở lên. Ở thì trước tiêm, tỷ trọng nhu mô lách đồng nhất (35–55 HU) ở 42,2% (19/45 bệnh nhân); 33,3% (15/45) có vùng giảm tỷ trọng (<35 HU) và 24,5% (11/45) có vùng tăng tỷ trọng (>55 HU). Sau tiêm ở thì tĩnh mạch, có 80,0% (36/45) vùng tổn thương không ngấm thuốc hoặc ngấm kém; 6,7% (3/45) có phối hợp không ngấm và ngấm thuốc khu trú (ổ giả phình); 13,3% (6/45) có tổn thương phối hợp ngấm thuốc lan rộng (chảy máu hoạt động).
Dạng tổn thương ghi nhận trên CLVT Số bệnh nhân (n = 45) Tỷ lệ (%)
Đường vỡ nhu mô 40 88,9
Dịch tự do ổ bụng 38 84,4
Đụng dập lách 21 46,7
Máu tụ dưới bao lách 19 42,2
Chảy máu hoạt động 6 13,3
Máu tụ trong nhu mô lách 5 11,1
Ổ giả phình mạch 3 6,7

Về vị trí đường rách (khảo sát trên 40 bệnh nhân có đường vỡ): mặt hoành chiếm 32,5% (13/40), cực dưới chiếm 30,0% (12/40), tổn thương phức tạp chiếm 22,5% (9/40), cực trên chiếm 12,5% (5/40), mặt hoành – bờ dưới chiếm 2,5% (1/40), không ghi nhận ca nào ở mặt hoành – cực dưới (0%). Về chiều sâu đường rách nhu mô: >3 cm chiếm 53,3% (24/45), từ 1–3 cm chiếm 31,1% (14/45), <1 cm chiếm 4,5% (2/45), không rách chiếm 11,1% (5/45).

Phân độ chấn thương lách theo AAST 2018 trên CLVT cho kết quả:

  • Độ I: 2 bệnh nhân (4,4%)
  • Độ II: 17 bệnh nhân (37,8%)
  • Độ III: 16 bệnh nhân (35,6%)
  • Độ IV: 9 bệnh nhân (20,0%)
  • Độ V: 1 bệnh nhân (2,2%)

Về tổn thương phối hợp: 42,2% (19/45) không có tổn thương phối hợp; 57,8% (26/45) có tổn thương tạng phối hợp. Trong nhóm 26 bệnh nhân này, tổn thương ngoài ổ bụng hay gặp nhất là tổn thương phổi (38,5% - 10 ca), gãy xương sườn (26,9% - 7 ca), gãy cột sống (15,4% - 4 ca). Trong ổ bụng, chấn thương thận gặp nhiều nhất (30,8% - 8 ca), tiếp đến là gan (19,2% - 5 ca), tuyến thượng thận (15,4% - 4 ca), không gặp chấn thương tụy (0%).

Chương IV: Bàn luận

Chương IV phân tích, so sánh kết quả thu được với các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước:

  • Đặc điểm dịch tễ: Tỷ lệ nam/nữ trong nghiên cứu (6,5/1) cao hơn so với Nguyễn Văn Xuyên (3,5/1) hay Trần Ngọc Dũng (3,5/1), nhưng đều thống nhất ở đặc điểm nam giới chiếm ưu thế do đặc thù lao động nặng và tham gia giao thông. Tỷ lệ nhóm tuổi lao động 16–60 chiếm 95,6% tương thích với nghiên cứu của Bảo Quốc Danh - Văn Năng Phạm (73,8%) và Trần Ngọc Dũng (81,6%). Tỷ lệ tai nạn giao thông 68,9% phù hợp với số liệu của Peitzman (81,3%) và Trần Ngọc Dũng (62,0%).
  • Đánh giá kỹ thuật: Tác giả phân tích ưu thế vượt trội của máy CLVT 64 dãy so với máy 16 dãy. Thời gian quét của máy Siemens 64 dãy chỉ mất 14 giây, nhanh hơn so với 15,99 giây của máy GE 16 dãy. Tốc độ quay bóng nhanh giúp giảm đáng kể hiện tượng nhiễu ảnh do nhịp thở hoặc cử động ở bệnh nhân nặng, kích thích không thể nín thở hoặc không giơ tay lên đầu được. Việc sử dụng trigger tự động (100–130 HU) trong kỹ thuật Bolus tracking ở máy 64 dãy giúp bắt chính xác thì động mạch hơn so với việc ước lượng thời gian thủ công trên máy 16 dãy (dễ bị chụp sớm hoặc muộn chuyển sang thì tĩnh mạch). Nghiên cứu cũng bàn luận về tốc độ tiêm 3,5 ml/s và nồng độ thuốc cản quang, chỉ ra rằng đo HU tại động mạch chủ ngang mức động mạch thận chịu ảnh hưởng bởi huyết áp, nhịp tim và loại thuốc. Thì trước tiêm có 42,2% trường hợp tỷ trọng đồng nhất (35–55 HU) làm che lấp tổn thương, khẳng định tiêm thuốc cản quang ở thì tĩnh mạch là bắt buộc để bộc lộ đường vỡ (80% không ngấm hoặc ngấm kém).
  • Đặc điểm hình ảnh tổn thương: Dấu hiệu đường vỡ (88,9%) và máu tụ dưới bao (42,2%) là tổn thương nổi bật nhất, tương đồng với các nghiên cứu của Trần Ngọc Dũng và Trần Văn Đáng. Tổn thương mặt hoành chiếm cao nhất (32,5%) do tác động lực trực tiếp vào khung sườn. Việc phát hiện ổ đọng thuốc khu trú ở thì muộn (giả phình mạch, 6,7%) hoặc ổ đọng thuốc tăng kích thước ở thì muộn (chảy máu hoạt động, 13,3%) có vai trò quyết định trong việc chỉ định nút mạch hoặc mổ cấp cứu. Tỷ lệ chấn thương lách độ II (37,8%) và độ III (35,6%) chiếm đa số, hoàn toàn tương thích với y văn. Tổn thương phối hợp với phổi (38,5%) và thận (30,8%) phản ánh cơ chế truyền lực qua thành ngực và liên quan giải phẫu liền kề của ô hạ sườn trái.

Kết quả và đóng góp

Nghiên cứu cung cấp số liệu thực chứng chi tiết về quy trình kỹ thuật chụp CLVT đa dãy và đặc điểm hình ảnh bệnh học chấn thương lách trên mẫu bệnh nhân thực tế tại hai bệnh viện tuyến cuối ở Hà Nội:

  • Xác lập số liệu định lượng về kỹ thuật: Đánh giá hiệu quả bắt thì động mạch bằng kỹ thuật Bolus tracking với ngưỡng trigger 100–130 HU; ghi nhận 40% bệnh nhân đạt độ ngấm thuốc mạch máu ≥300 HU ở động mạch chủ bụng khi tiêm thuốc tốc độ 3,5 ml/s. Chứng minh thì tĩnh mạch (sau tiêm 60–70 giây) là thì quan trọng nhất khi bộc lộ tới 80% tổn thương giảm ngấm thuốc.
  • Xác định tỷ lệ các thể tổn thương hình ảnh: Đường vỡ chiếm 88,9%; dịch ổ bụng chiếm 84,4%; đụng dập chiếm 46,7%; máu tụ dưới bao chiếm 42,2%; chảy máu hoạt động chiếm 13,3%; máu tụ trong nhu mô chiếm 11,1%; và ổ giả phình mạch chiếm 6,7%.
  • Cung cấp cơ sở hình ảnh học cho phân loại lâm sàng: Xác định tỷ lệ rách nhu mô sâu >3 cm chiếm 53,3% và chấn thương lách độ II–III theo AAST 2018 chiếm tỷ lệ áp đảo (73,4%).
  • Tác giả khẳng định giá trị của máy CLVT 64 dãy với thời gian quét ngắn (14 giây) và cài đặt trigger tự động vượt trội hơn máy 16 dãy trong việc hạn chế xảo ảnh chuyển động ở bệnh nhân cấp cứu đa chấn thương.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận có một số hạn chế gắn liền với phạm vi nghiên cứu:

  • Thiết kế nghiên cứu hồi cứu với cỡ mẫu còn khiêm tốn (n = 45 bệnh nhân), áp dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện trong thời gian 4 tháng tại hai bệnh viện nên tính đại diện chưa cao.
  • Khóa luận mới dừng lại ở việc mô tả đặc điểm hình ảnh và quy trình kỹ thuật chụp CLVT, chưa đối chiếu mức độ phù hợp giữa phân độ hình ảnh trên CLVT với kết quả phẫu thuật thực tế hoặc hiệu quả can thiệp nút mạch và điều trị bảo tồn.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo được gợi mở từ thực tế: Cần mở rộng nghiên cứu tiến cứu với cỡ mẫu lớn hơn; theo dõi dọc kết quả điều trị (bảo tồn, can thiệp nội mạch hay phẫu thuật cắt lách) tương ứng với từng phân độ hình ảnh AAST 2018 trên CLVT.

Giá trị tham khảo

Tài liệu này hữu ích cho:

  • Sinh viên, kỹ thuật viên ngành Kỹ thuật hình ảnh y học: Phần quy trình kỹ thuật chụp CLVT ổ bụng, cách đặt thông số máy, kỹ thuật tiêm máy bơm điện Bolus tracking và cách cài đặt trigger là tư liệu tham khảo thực hành trực quan.
  • Bác sĩ chuyên khoa Chẩn đoán hình ảnh và bác sĩ Ngoại khoa cấp cứu: Bảng phân loại AAST 2018 cập nhật tổn thương mạch máu, số liệu về tỷ trọng HU của nhu mô lách trước và sau tiêm, cùng dấu hiệu phân biệt giữa ổ giả phình (ngấm thuốc khu trú) và chảy máu hoạt động (thoát thuốc lan tỏa tăng kích thước ở thì muộn) có giá trị cao trong định hướng xử trí lâm sàng.

Câu hỏi thường gặp

Khóa luận sử dụng những loại máy cắt lớp vi tính và thuốc cản quang nào?
Nghiên cứu sử dụng hai dòng máy CLVT đa dãy gồm máy Siemens Somatom Perspective 64 dãy (tại Bệnh viện E, quét 14 giây) và máy GE Optima CT540 16 dãy (tại Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức, quét 15,99 giây). Hai loại thuốc cản quang được dùng là Ultravist 370 mgI/ml (chiếm 53,3%) và Omnipaque 300 mgI/ml (chiếm 46,7%).

Kỹ thuật chụp thì động mạch giữa hai bệnh viện trong nghiên cứu có gì khác biệt?
Cả hai viện đều dùng kỹ thuật Bolus tracking, nhưng Bệnh viện E (máy 64 dãy) đặt ROI và cài đặt ngưỡng trigger tự động 100–130 HU với thời gian trễ 5–7 giây để máy tự phát tia. Bệnh viện Hữu nghị Việt Đức (máy 16 dãy) không cài đặt ngưỡng trigger HU mà kỹ thuật viên chụp dựa vào thời gian tiêm (delay 25–30 giây) kết hợp quan sát bằng mắt dòng thuốc cản quang vào mạch máu.

Tại sao chụp cắt lớp vi tính thì trước tiêm có thể bỏ sót chấn thương lách?
Số liệu nghiên cứu cho thấy ở thì trước tiêm, có tới 42,2% bệnh nhân (19/45 ca) có tỷ trọng nhu mô lách đồng nhất trong giới hạn bình thường (35–55 HU), không quan sát thấy vùng tổn thương. Chỉ sau khi tiêm thuốc ở thì tĩnh mạch, các ổ đụng dập và đường rách mới bộc lộ rõ do đặc tính không ngấm thuốc hoặc ngấm thuốc kém (chiếm 80% trường hợp).

Dấu hiệu nhận biết chảy máu hoạt động và ổ giả phình mạch lách trên CLVT là gì?
Cả hai đều biểu hiện tăng tỷ trọng của thuốc cản quang trong hoặc ngoài nhu mô lách ở các thì mạch máu. Tuy nhiên, ổ giả phình có ranh giới rõ ràng, là tổn thương ngấm thuốc khu trú và giảm đậm độ ở thì muộn (gặp ở 6,7% bệnh nhân). Ngược lại, chảy máu thể hoạt động là ổ thoát thuốc cản quang không có bờ rõ, tiếp tục tăng kích thước hoặc tăng đậm độ lan rộng ở thì muộn (gặp ở 13,3% bệnh nhân).

Chấn thương lách theo phân độ AAST 2018 trong nghiên cứu tập trung nhiều nhất ở độ mấy?
Phân độ chấn thương lách tập trung chủ yếu ở độ II (37,8% - 17 ca) và độ III (35,6% - 16 ca). Độ IV chiếm 20,0% (9 ca), độ I chiếm 4,4% (2 ca) và độ V chiếm tỷ lệ thấp nhất với 2,2% (1 ca).

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Phương Anh đã phân tích toàn diện kỹ thuật chụp CLVT đa dãy và đặc điểm hình ảnh chấn thương lách trên 45 bệnh nhân tại hai bệnh viện lớn ở Hà Nội. Nghiên cứu khẳng định ưu thế của máy CLVT 64 dãy tích hợp kỹ thuật Bolus tracking tự động trigger trong việc tối ưu hóa chất lượng hình ảnh và bắt chính xác thì mạch máu. Hình thái tổn thương phổ biến nhất được ghi nhận là đường vỡ nhu mô (88,9%) và dịch tự do ổ bụng (84,4%), phần lớn tập trung ở phân độ AAST II và III. Đây là công trình thực nghiệm lâm sàng có giá trị chuyên môn cao, hỗ trợ đắc lực cho công tác đào tạo kỹ thuật viên hình ảnh và định hướng chẩn đoán cho các bác sĩ lâm sàng.