Chương 1 NHỮNG VAN DE CHUNG VE PHÁP LUAT THUE GIÁ TRI GIA TANG VÀ KỸ NANG TU VAN PHAP LUAT THUE GIA TRI GIA TANG CHO DOANH NGHIEP 1. Khái quát về thuế GTGT, pháp luật về thuế GTGT 1. Khải niệm và đặc điểm của thuế giá trị tăng 1. Khái niệm thuế GTGT Thuế GTGT (Thuế giá trị gia tăng), hay còn gọi là Thuế VAT là loại thuế phổ biến mà mọi doanh nghiệp, hộ cá nhân kinh doanh cần theo dõi dé kê khai nộp thuế theo đúng quy định hiện hành.
Thuế GTGT chính thức được áp dụng lần đầu đối với các doanh nghiệp lớn vào ngày 10 tháng 4 năm 1954 tại Pháp với tên gọi là Taxe Sur La Valeur Anjou tesee (TVA) (Tiếng Anh là Value Added Tax — VAT). Thuế giá trị gia tăng được áp dụng lan đầu ở Việt Nam vào thời Việt Nam Cộng hoa đầu thập niên 1970 với mục đích dé gia tăng ngân sách quốc gia. Định nghĩa về Thuế giá trị gia tăng (GTGT) được quy định tại Điều 2 Luật số 13/2008/QH12: “Thuế GTGT là thuế gián thu được tính trên giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.” Hiểu một cách đơn giản, đây là loại thuế được tính cộng vào giá bán của các loại hàng hóa, dịch vụ trong đơn hàng và do người tiêu dùng thanh toán, chi trả khi sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó. Đặc điểm của thuế GTŒT Thứ nhất, thuế GTGT là thuế gián thu: Thuế GTGT do người tiêu dùng cuối cùng chịu.
Cơ sở sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ là người nộp thuế vào ngân sách nhà nước thay cho người tiêu dùng thông qua việc cộng thuế vào giá bán mà người tiêu dùng phải thanh toán khi mua hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, thuế GTGT là thuế gián thu. Thứ hai, thuế giá trị gia tăng là thuế tiêu dung, đánh vào tat cả các giai đoạn luân chuyên từ sản xuất, nhập khâu, lưu thông đến tiêu dùng. Mặc du hàng hóa, dịch vụ luận chuyển qua nhiều giai đoạn của quá trình từ sản xuất kinh doanh đến tiêu dùng nhưng thuế GTGT không bị đánh thuế trùng lặp, bởi ở từng giai đoạn, từng khâu đó thuế chỉ tính trên phần giá trị gia tăng của giai đoạn đó, không tính trùng phần GTGT đã tính thuế ở các giai đoạn luân chuyền trước.
Xét trên một hàng hóa, dịch vụ bất kỳ, tổng số thuế GTGT thu được qua tất cả các giai đoạn luân chuyên của hàng hóa, dịch vụ bằng với số thuế tính trên giá bán cho người tiêu dùng cuối cùng. Vì vậy, thuế GTGT là thuế tiêu dùng nhiều giai đoạn không trùng lặp. Thứ ba, thuế giá trị gia tăng được đánh thuế theo nguyên tắc điểm đến. Thuế GTGT được áp dụng theo nguyên tắc điểm đến.
Thuế GTGT đánh vào hàng hóa, dịch vụ phục vụ cho mục đích sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng nội địa, bất kê hàng hóa địch vụ đó được tạo ra ở trong nước hay nhập khẩu từ nước ngoài. Thứ tư, thuế giá trí gia tăng có phạm vi điều tiết rộng. Thuộc loại thuế tiêu dùng thông thường, đánh vào hầu hết các hàng hóa, dịch vụ nên thuế GTGT có phạm vi điều tiết rộng tạo nguồn thu lớn cho NSNN Người nộp thuế là tô chức, cá nhân có sản xuất, kinh doanh hoặc có nhập khâu hàng hóa, dịch vụ chịu thuế GTGT thì đều phải nộp thuế GTGT. Hàng hóa dịch vụ chịu thuế là tất cả các hàng hóa, dịch vụ dùng cho SXKD và tiêu dùng tại Việt Nam trừ 25 loại hàng hóa dịch vụ quy định tại điều 5, Luật thuế GTGT.
Khái niệm và cấu trúc của pháp luật thuế GTGT 1. Khái niệm pháp luật thuế GTGT Pháp luật thuế GTGT bao gồm hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thu, nộp thuế GTGT. Luật thuế GTGT được quốc hội khóa X thông qua ngày 10 tháng 5 năm 1997 đã có hiệu lực thi hành 01/01/1999; Luật sửa đổi bố sung một số điều Luật thuế GTGT được quốc hội khóa XI thông qua 17/06/2003 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2004; Luật sửa đổi bô sung một số điều của Luật thuế tiêu thụ đặc biệt và Luật thuế GTGT được quốc hội khóa XI thông qua ngày 29/11/2005 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2006. Sau đó năm 2008, Luật Thuế GTGT mới được ban hành (bắt đầu có hiệu lực thi hành ké từ ngày 01/01/2009) thay thế cho Luật thuế GTGT trước đó.
Đến năm 2013, năm 2014 va năm 2016, Luật thuế GTGT này được sửa đổi, bố sung một số điều. Bên cạnh đó còn có Luật Quản lý thuế ban hành năm 2006, Luật này được sửa đổi bồ sung nhiều lần. Đến năm 2019 Luật quản lý thuế mới được ban hành dé thay thế cho Luật quản lý thuế trước đây. Trên cơ sở Luật Thuê GTGT và Luật Quản lý thuế được ban hành, Chính phủ đã ban hành ra nhiều Nghị định, Bộ Tài chính ban hành nhiều Thông tư dé quy định chỉ tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT và Luật Quản lý thuế.
Theo thống kê hiện nay đang có 9 Nghị định và 12 Thông tư đang có hiệu lực thi hành. Đó chính là nguồn cơ bản của pháp luật thuế GTGT ở Việt Nam hiện nay!. Cau trúc của pháp luật thuế GTGT. Cấu trúc của pháp luật thuế GTGT được hiểu: chính là việc sắp xếp các QPPL trong pháp luật thuế GTGT thành các bộ phận khác nhau theo những tiêu chí hay căn cứ nào đó nhằm phục vụ cho mục đích của người nghiên cứu.
*Nếu căn cứ vào bản chất của quan hệ mà pháp luật thuế GTGT diéu chỉnh thì pháp luật thuế GTGT được chia thành 2 bộ phận cơ bản là: Bộ phận pháp luật ghi nhận phản ánh chính sách thuế GTGT hay còn gọi tắt là pháp luật về chính sách thuế GTGT và Bộ phận pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội phát sinh trong quan lý thuế GTGT (hay còn gọi tắt là pháp luật quản lý thuế GTGT). - Bộ phận pháp luật quy định điều chỉnh nội dụng chính sách thuế GTGT hay còn gọi là pháp luật về chính sách thuế GTGT. Các QPPL của bộ phận pháp luật thuê GTGT này tập trung chủ yếu ở Luật thuế GTGT và các văn bản quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật thuế GTGT. Trong pháp luật về chính sách thuế GTGT được phân chia nhỏ thành các nhóm quy phạm pháp luật sau: + Nhóm quy phạm quy định về phạm vi áp dụng: Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định chủ thể phải nộp thuế giá trị gia tăng là những tô chức, cá nhân nào, trong đó vấn đề cốt lõi là quy định các tiêu chí xác định chủ thể nộp thuế giá trị gia tăng.
Việc quy định về chủ thể nộp thuế GTGT phải đảm bảo các nguyên tắc cơ bản trong đánh thuế nói chung như nguyên tắc công khai, minh bạch; nguyên tắc công bằng; nguyên tắc trung lập; nguyên tắc hiệu quả kinh tế; nguyên tắc đánh thuế phù hợp với khả năng tài chính của người nộp thuế. Bên cạnh đó, nhóm quy phạm này còn quy định về đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng, xác định đối tượng bị đánh thuế giá trị gia tăng (đối tượng phải chịu thuế GTGT) là những loại hàng hóa, dịch vụ nào. Việc quy định đối tượng chịu thuế GTGT phải dựa trên 1 Xem Phụ lục | của Khóa luận này những cơ sở khoa học nhất định và đảm bảo thực hiện được các mục tiêu chủ yeu của Nhà nước trong chính sách thuế GTGT trong từng thời ky + Nhóm quy phạm quy định về căn cứ tính thuế: Đây là nhóm quy phạm có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng trong việc xác định mục tiêu của chính sách thuế. Chính vì vậy, nhóm quy phạm pháp luật này thường có nhiệm vụ phải quy định rõ việc tính thuế GTGT phải nộp đối với người nộp thuế phải dựa những căn cứ nào? Việc xác định các căn cứ tính thuế phải đảm bảo tính khoa học, chính xác và hợp lý, tránh gây ra các hậu quả thiệt hại cho chủ thé này hoặc chủ thể khác trong quá trình thực hiện pháp luật thuế GTGT hoặc làm giảm tính hiệu quả của pháp luật thuế GTGT.
Trong pháp luật thuế GTGT của Việt Nam hiện nay thì thuế GTGT được tính dựa trên hai căn cứ là giá tính thuế và thuế suất. Giá tính thuế đối với hàng hóa, dịch vụ là giá bán của hàng hóa, dịch vụ đã có thuế nhập khẩu (nếu là hàng hóa nhập khâu), đã có thuế tiêu thụ đặc biệt (nếu là hàng hóa dịch vụ chịu thuế tiêu thụ đặc biệt), đã có thuế bảo vệ mội trường (nếu là hàng hóa chịu thuế bảo vệ môi trường) và chưa có thuế GTGT. Về thuế suất thuế GTGT sẽ có các mức thuế suất khác nhau áp dụng với các loại hàng hoá và dịch vụ khác nhau. Luật thuế GTGT quy định 3 mức thuế suất thuế giá trị gia tăng đang được áp dụng hiện nay là: 0%, 5% và 10%.
Tuy nhiên đứng trước sự khó khăn về kinh tế thì năm 2022, hầu hết hàng hóa, dich vụ đang áp dụng mức thuế giá trị gia tăng (VAT) 10% sẽ được giảm xuống còn 8% theo Nghị định 15/2022/NĐ-CP. Nghị định này đã làm rõ hơn chức năng điều tiết kinh tế của hoạt động thuế, thông qua thuế, Nhà nước đã linh hoạt điều chính các chính sách thuế trong từng thời kỳ nhất định, nhằm tác động vào cung - cầu giúp điều chỉnh chu kỳ kinh tế - một đặc trưng vốn có của nên kinh tế thị trường. + Nhóm quy phạm quy định về phương pháp tính thuế: Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ xác định các phương pháp cơ bản để tính thuế GTGT cho người nộp thuế. Về nguyên tắc, các phương pháp tính thuế không chỉ là căn cứ để người nộp thuế tự kê khai, tính thuế đối với Nhà nước mà còn là căn cứ để cơ quan thuế xác định va an định số thuế phải nộp đối với người nộp thuế trong trường hợp cần thiết.
+ Nhóm quy phạm pháp luật quy định về khấu trừ, hoàn thuế GTGT: Nhóm quy phạm pháp luật này có nhiệm vụ quy định về chủ thể được khấu trừ, hoàn thuế GTGT là những đối tượng nảo, căn cứ vào đâu dé khấu trừ, hoàn thuế GTGT và các trường hợp cụ thể nào sẽ được khấu trừ, hoàn thuế GTGT. Về nguyên tắc, việc quy định về khấu trừ và hoàn thuế GTGT phải đảm bảo tính khoa học, chính xác, đúng đối tượng nhằm phát huy tác dụng thiết thực và ý nghĩa tích cực của chế định hoàn thuế GTGT trong thực tiễn thực hiện.