CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KỸ NĂNG GIAO TIẾP CỦA HS THCS Ở THÀNH PHỐ THỦ DẦU MỘT 1.1 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1.1Trên thế giới: Vấn đề kỹ năng giao tiếp từ lâu đã được rất nhiều nhà triết học quan tâm và nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau. Trước thế kỉ XX GT chưa được nghiên cứu một cách có hệ thống, mà mới chỉ được các nhà triết học đề cập đến như một vấn đề quan trọng đặc biệt trong sự hình thành và phát triển nhân cách con người. Thời cổ đại, hai nhà triết học lỗi lạc Hy Lạp là Xôcơrát (470-399 TCN) và Platon (428-437 TCN) đã nói đến đối thoại như là sự GT có trí tuệ, phản ánh mối quan hệ con người-con người, là nơi bộc lộ đời sống tâm hồn của mỗi con người[11]. Nhà triết học duy vật cổ điển Đức Ludwig Andrenas Feuerbach (1804- 1872) cho rằng: “Bản chất con người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất của con người với con người, trong sự thống nhất dựa trên trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn”.
Ăngghen hiểu giao tiếp như là “một quá trình thống nhất, hợp tác, tác động qua lại giữa người với người”[3]. Như vậy, thông qua GT con người mới hiểu lẫn nhau, học cách bắt chước, ảnh hưởng lẫn nhau để hình thành và phát triển nhân cách. Các công trình nghiên cứu của các nhà tâm lý học Liên Xô về GT nghiên cứu theo hai hướng: Hướng thứ nhất, nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về giao tiếp như: bản chất, cấu trúc GT, cơ chế GT, mối quan hệ giữa GT với hoạt động. Đại diện là nhà triết học Nga V.
Hướng thứ hai, nghiên cứu các dạng GT nghề nghiệp (chủ yếu là GT sư phạm) như A. Leonchiev với Giao tiếp sư phạm (1979), A. Petrovxki với Tâm lý học lứa tuổi và tâm lý học sư phạm (1982) và Những cơ sở của tâm lý học sư phạm (1980) của V. Dakharov đã đề xuất trắc nghiệm nghiên cứu các kỹ năng giao tiếp[11].
Nhà tâm lý học người Mỹ Osgood C.E cho rằng GT bao gồm các hành động riêng rẽ mà thực chất là chuyển giao thông tin và tiếp nhận thông tin. GT là một quá trình hai mặt: liên lạc và ảnh hưởng lẫn nhau. Tuy nhiên, ông chưa đưa ra nội hàm cụ thể cho của hai mặt này. Các nhà tâm lý học Liên Xô cũ cũng rất quan tâm nghiên cứu hiện tượng GT.
Có một số khái niệm được đưa ra như “giao tiếp là một sự liên hệ và đối xử lẫn nhau”, “giao tiếp là quá trình chuyển giao tư duy và cảm xúc” còn X.Rubinstein lại khảo sát GT dưới góc độ hiểu biết lẫn nhau giữa người với người[15]. Có rất nhiều quan niệm khác nhau về GT, tùy thuộc vào phương pháp tiếp cận mà mỗi người đưa ra những nhận định riêng. Những năm đầu thế kỷ XX, khoa học TL bắt đầu nghiên cứu chú ý đến GT, trong đó không thể không kể đến vai trò quan trọng của nhà tâm lý học S.Frued (1856-1939) nghiên cứu mối liên hệ GT và giấc mơ. Thông qua GT, con người đạt đến một số hiểu biết về nhau, học cách bắt chước lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, xây dựng lòng tin và tìm hiểu thêm về bản thân và cách nhận thức về con người.
Những người GT hiệu quả biết làm thế nào để tương tác với những người khác linh hoạt, khéo léo, và có trách nhiệm, nhưng vẫn không đánh mất nhu cầu riêng và sự toàn vẹn của họ. Tâm lý học Ghestalt cũng đã quan tâm và đưa ra những nhận định về GT. Đến giữa thế kỷ XIX, những nghiên cứu về GT ở Phương Tây bao trù một phạm vi tương đối rộng lớn, đi từ lý luận về thông tin, ngữ nghĩa học và ngôn ngữ học, qua nghiên cứu thực nghiệm về hệ thống GT nằm trong những nhóm nhỏ, cho tới những phân tích về GT đại chúng. Các nhà tâm lý học như B.Ananhev đã nhận định “Giao tiếp là một trong ba dạng cơ bản của hoạt động con người, ngang với lao động và nhận thức” “giao tiếp và lao động là hai dạng cơ bản của hoạt động của con người” (A.Lêônchep) và “giao tiếp là hình thức tồn tại song song cùng hoạt động”(B.2 Ở Việt Nam Vấn đề GT trong tâm lý học ở nước ta mới được đi sâu vào đầu những năm 80 của thế kỷ XX trở lại đây, được thể hiện trong một số công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn sau: Đặc điểm giao tiếp sư phạm (1985) của Trần Trọng Thủy, Giao tiếp và ứng xử sư phạm (1992) của Ngô Công Hoàn, Giao tiếp sư phạm (1999) của Ngô Công Hoàn – Hoàng Anh[11].
Các công trình nghiên cứu này tập trung phân tích các quan hệ GT tới sự hình thành và phát triển nhân cách học sinh ở các lứa tuổi khác nhau, mối quan hệ qua lại giữa hoạt động chủ đạo và GT trong mỗi giai đọan đó. Như vậy, GT là một trong những nhu cầu xã hội cơ bản và xuất hiện sớm nhất ở con người. Nhu cầu này được thõa mãn bằng chính quá trình GT. Nó được coi là quá trình hướng vào xã hội và hướng vào nhân cách giúp con người lĩnh hội những giá trị văn hóa xã hội và điều chỉnh bản thân[11] Kết luận chung Các nghiên cứu về GT mới chỉ tập trung nghiên cứu về GT trong học đường đặc biệt là giao tiếp sư phạm, GT của nhóm HS, sinh viên.
Có nghiên cứu GT ở một số nghề nghiệp cụ thể như bác sĩ, thẩm phán, giáo viên và một số nghiên cứu trong 17 kinh doanh, sản xuất. Tuy nhiên, các công trình ngiên cứu này vẫn còn chưa đề cập nhiều đến vấn đề GT của HS THCS trên địa bàn Thành Phố Thủ Dầu Một.2 Một số vấn đề lý luận của vấn đề nghiên cứu 1. Kỹ năng Cho đến nay, trên thế giới và ở nước ta vẫn tồn tại nhiều quan niệm khác nhau về kỹ năng và nó được nhìn dưới những góc độ khác nhau. Muốn có được kết quả trong một hoạt động nào đó, con người cần phải có những KN nhất định về hoạt động đó[11].Levitov-nhà TLH Liên Xô cũ: KN là sự thực hiện có kết quả một động tác nào đó hay hoạt động phức tạp hơn bằng cách áp dụng hay lựa chọn những cách thức đúng đắn có chiếu cố đến những điều kiện nhất định[11;79].
Lưu Xuân Mới trong cuốn lí luận dạy học đại học cho rằng KN là sự biểu hiện kết quả thực hiện hành động trên cơ sở kiến thức đã có. KN là tri thức trong hành động.Tsêbưsêva thì quan niệm: kỹ năng là hoạt động máy móc thích ứng với những đặc điểm cụ thể của hoàn cảnh.Cruchetxki lại cho rằng: kỹ năng là phương thức thực hiện hành động đã được con người nắm vững. Theo họ, chỉ cần nắm vững những phương thức hành động là con người đã có KN, không cần tính đến kết quả của hành động[11] Kỹ năng là một vấn đề được nhiều nhà TLH, giáo dục học quan tâm. Chẳng hạn, theo Bùi Văn Huệ thì KN là khả năng vận dụng tri thức, khái niệm, định nghĩa, định luật vào thực tiễn.[12;89] Theo Từ điển Tiếng Việt phổ thông: “Kỹ năng là khả năng vận dụng những kiến thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế”.
Trong TLH GT, tác giả Nguyễn Văn Đồng xác định: “Kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể”[1] 18 Một số tác giả trong nước như Nguyễn Quang Uẩn, Trần Quốc Thành, Nguyễn Ánh Tuyết … cũng quan niệm: KN là một mặt của năng lực con người thực hiện một công việc có kết quả.[11] Trần Trọng Thủy xem KN là mặt kỹ thuật của hành động, con người nắm được hành động tức là có kỹ thuật hành động, có KN KN là khả năng thao tác, thực hiện một hoạt động nào đó. Hay KN là Khả năng vận dụng kiến thức (khái niệm, cách thức, phương pháp v.v…) để giải quyết một nhiệm vụ mới[8]. Hay theo Lưu Xuân Mới trong cuốn Lý luận dạy học đại học cho rằng, KN là sự biểu hiện kết quả thực hiện hành động trên cơ sở kiến thức đã có. KN là tri thức trong hành động.[12] Từ những quan điểm trên, nhóm nghiên cứu chọn khái niệm của tác giả Nguyễn Văn Đồng “Kỹ năng là năng lực vận dụng những tri thức đã được lĩnh hội để thực hiện có hiệu quả một hoạt động tương ứng trong những điều kiện cụ thể” b.
Giao tiếp GT là hiện tượng TL phức tạp bao gồm nhiều mặt, nhiều cấp độ khác nhau. Có nhiều định nghĩa khác nhau về GT. Mỗi định nghĩa đều dựa trên quan điểm riêng. Trên thế giới, David K.Benlo định nghĩa GT như sau: “Giao tiếp của con người là một quá trình có chủ định hay không chủ định, có ý thức hay không có ý thức mà trong đó các cảm xúc hay tư tưởng được biểu đạt trong các thông điệp bằng ngôn ngữ hoặc phi ngôn ngữ”[3].
Hay theo như nhà TLH nổi tiếng Fischer đưa ra khái niệm về GT là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng thức ứng xử rất khác nhau: Lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn, theo quan điểm ấy, không có sự đối lập giữa GT bằng lời và GT không bằng lời. GT là một tổng thể toàn vẹn[15].Lomov trong cuốn: Những vấn đề giao tiếp trong tâm lý học coi “giao tiếp là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với người, với tư cách là chủ thể”[12]. Mosles, nhà tâm lý học theo quan điểm truyền thông tin cho rằng: Giao tiếp là lý luận về các hệ thống phức hợp tự kiểm soát… Thông tin không chỉ bao 19 gồm ngôn ngữ nói và viết mà còn cả các mã và tín hiệu; GT là một quá trình phát và nhận tin; trao đổi thông tin có thể diễn ra trực tiếp hoặc gián tiếp…[3]. Parghin định nghĩa: GT là quá trình quan hệ tác động giữa các cá thể, là quá trình thông tin quan hệ giữa con người với con người, là quá trình hiểu biết lẫn nhau, ảnh hưởng lẫn nhau và trao đổi cảm xúc lẫn nhau.
Leonchiev đưa ra định nghĩa: GT là một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ đảm bảo sự tương tác giữa người này với người khác trong hoạt động tập thể, thực hiện các quan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lý và sử dụng phương tiện đặc thù, mà trước hết là ngôn ngữ.