Chương 1: LICH SỬ VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Những nghiên cứu ở Phương Tây: Từ thời cổ Hy Lạp, giao tiếp đã được một số nhà triết học quan tâm nghiên cứu. Tuy nhiên từ thể kĩ 19 giao tiếp mới được mô tả như là sự phản ánh mối quan hệ người người. + Socrate (470-399 trước công nguyên), Platon (428-347 trước công nguyên) mô tả đối thoại như là sự giao tiếp trí tuệ, phản ánh mối quan hệ giữa con người và con người. + Lêôna đơvanhxi- nhà nghệ sĩ thiên tài người Ý- đã mô tả sự giao tiếp giữa me con.
+MPHem- xtcc- loxis- nhà triết học Hà Lan- da viết một tiểu luận với nhan để: "Một bức thư về con người và các quan hệ của nó với người khác”. Trong tác phẩm này có đoạn:” Trái tìm và lương tâm con người chỉ bộc lộ khi người ay cùng sống với những người khác ", Đến thế ki 19, giao tiếp được xem là quan trong trong sự hình thành và phát triển bản chất xã hôi của con người. + Phơhach (1804-1872) viết: “Ban chất con người chỉ biểu hiện trong giao tiếp, trong sự thống nhất giữa con người với con người, trong su thống nhất dựa trên tính hiện thực của sự khác biệt giữa tôi và bạn”.Mark với tác phẩm “ban thảo kính tế triết học 1894" có viết: bất cứ quan hệ nào của con người đối với bản thân mình đều chỉ được thực hiện. biểu hiện trong quan hệ của con người đối với những người khác”.
Sang đầu thế kỉ 20. giao tiếp được quan tâm nghiên cứu rộng rai và được các nhà triết học.Mit (1863-1931) nha triết học người MT- viet: "Nếu chúng ta muốn cú củi riêng của chúng tú thì phải có cái “tôi” khác”, Ông đã nhấn mạnh đến sự lắc động qua lại trong giao tiếp giữa cái "tôi" cá nhân và cái “tôi” là “khách thể xã hội”. + Mactibahd (1878-1965), nhà triết học hiện sinh, đã đưa ra tư tưởng: "Tổn tại là đối thoại” trong tác phẩm “Tôi và bạn”. Ong cho rằng trong giao tiếp hai người bổ sung cho nhau, chứ không phải thay thé nhau, đó là “hai người gap nhau”.
Ngoài ra ông còn gọi cuộc sống của con người là "cuộc sống đối thoại”, nếu thiếu đổi thoại và giao tiếp với người khác con người không thể tổn tại và phat triển được. Như vay ở tác phẩm này tác giả đã nhấn mạnh đến vai trò của giao tiếp, + Cacgiacpe (1883-1969), nhà tâm li học Đức, đã đưa ra thuyết “Giao Hiếp hiện sinh”, thuyết này chủ rằng “giao tiếp là su tổng quát của sự tổn tại của con người”. Nghĩa là con người phải có sự giao tiếp liên tuc hằng ngày. Giao tiến hiện sinh là cuộc trò chuyện giữa những người gắn gũi về các vấn để quan trọng đối với họ.
+ Những nhà triết học hiện sinh khác như: Gien Marosen (1869-1973), J.Sacươ (1905-1981) cùng Munié (1905-1950) cũng nghiên cứu vấn để giao tiếp, Họ cho rằng: ” Tôi chỉ tốn tại chững nào tôi tổn tại cho người khác”, + V.Bevcheep (1857-1927), nhà triết học người Nga. cho rằng giao tiến là anh hưởng tâm lí qua lại giữa người này cũng với người kia; giao tiếp giữ vai trò cử chế thực hiện hoạt động cùng nhau và hình thành nên chủ thể tập thể của hoại động đó, giao tiếp là điểu kiện thực hiện việc giáo dục, truyền đạt kinh nghiệm từ thế hệ này sang thé hệ khác. Từ giữa thé kỉ 20, sự ra đời của khoa học điều khiển đã ảnh hưởng mạnh đến tam H hoe nói chung và tắm lí học giao tiếp nói riêng. Các nhà điều khiển học dã xây dựng nên những mô hình, những sử đồ điều khiển có ý nghĩa chỉ đạo trong thực hành giao tiếp.
+ Năm 1963 Perdonici và cộng sự đã đưa ra sử để đơn giản của môi hệ thống giao tiếp như sau: Môi trường truyền thông Sự dé này cho thấy rằng giao tiếp là một sự trao đổi hai chiều, một quá trình khép kin, + Năm 1975 Thines và cộng sự đưa ra sơ đỗ phức tạp hơn: Mô hình này nêu bậc lên yếu tế kênh, tức là con đường liên lạc giữa bộ phat và hộ thu trong giao tiếp. + Nam 1970 có công trình nghiên cứu của Birdwhistell cho rằng giao tiến là mot qué trình đa kênh liên tục, sử dung tất cả các phương thức cảm giác, thị gác, thính giác. + Nim 1972 Mcharabian đã nghiên cứu những chỉ bao phi ngôn ngữ tính trội khi giao tiến với những luại người có các cương vị khác nhau. Vao những năm 70 của thé ki này giao Hiếp đã trả thành một vấn để nóng hồng của tâm lí học, cuốn hút sự tham gia nghiên cứu của nhiều nhà tâm Ii học.
xã hội học, triết học XG Viết. 1A + Năm 1973 có công trình nghiên cứu của Xacốpnhin với nhan để “Về bản chất giao tiếp người” + Nam 1974 có công trình " Tâm lí học giao tiếp” của A. + Năm 1976 có công trình nghiên cứu của La.Kôlôminxki: “Tam lí học về các mối quan hệ qua lại trong nhóm nhỏ `, + Năm 1979 có "Giao tiếp su phạm “ của A. + Nam 1980 có "Nhân cách trong cấu trúc giao tiếp sư phạm” của Pdlốtnhicôva.
+ Năm 1985 Sakanôva cho ra đời “Những trở ngại tâm lí trong giao tiếp tiữa các nhan cách”. + Năm 1988 có *Thế giới giao tiếp" của Kagan, Đặc biệt từ năm 1970 - 1973 có 3 Hội nghị khoa học bàn về vấn để giao tiếp: + Hôi nghị lan thứ nhất ở Lêningrát vào tháng 12/1970. + Hội nghị lần thứ hai ở Lêninprát vào tháng 3/1973. + Hội nghị lan thứ ba ở AlmaAta vào tháng 5/1973.
Nội dung của các hội nghị này bao gồm các vấn để sau: * Tư duy và giao tiếp. * Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu giao tiếp. * Cu chế giao tiếp. * Mô hình hoá quá trình giao tiếp.
= Những sai lệch và những ví phạm các loại hình giao tiếp. Như vậy vấn dé giao tiếp nói chung đã được nghiên cứu khả nhiều. Tuy nhiên vấn đẻ kỹ nang giao tiếp vẫn chưa được quan tâm sâu sắc l4 1.2 Những nghiên cứu ở Việt Nam ~ Ở Việt nam, vấn để giao tiếp cũng được nhiều nhà khoa học quan tâm nghiên cứu từ cuối: những năm 1970 trở lại đây. + Năm 1963 có công trình nghiên cứu của tác giả Đỗ Long về “Karl Mark và pham trù giao tiếp”.
+ Năm 1981, Ban tâm lí học thuộc Viện triết - Uỷ ban khoa học xã hội đã tổ chức hội nghị khoa học về “hoạt động và giao tiếp gồm các nội dung sau: *Quan hệ giữa hoạt đông và giao tiếp *Vai trò, vi trí, ý nghĩa của giao tiếp trong sự hình thành tâm lí, ý thức. *Hoạt động giao tiếp trong dạy học và giáo dục. + Năm 1981 có tác phẩm "Bàn về phạm trù giao tiếp” của Tiến sĩ Bùi Văn Huệ: "Giao tiếp. tâm lí, nhân cách" và “Giao tiếp và su phát triển nhân cách của trẻ” của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ.
+ Năm 1985 có "Đặc điểm giao tiếp của Sinh viên su phạm” của Giáo sư Trần Trọng Thuỷ. + Năm 1987 có "Giao tiếp su phạm” của Tiến sĩ Ngô Công Hoàn. + Năm 1992 có "Luyện giao tiếp sư phạm” của hai tác giả Nguyễn Thạc. Hoàng Anh; “Van dé giao tiếp sư pham” của tác giả Nguyễn Văn Lê.
+ Năm 1993 có “Kỹ năng giao tiếp sư pham của sinh viên" của Tiến sĩ Hoàng Anh: “Tâm lí học giao tiếp” Giáo sư, Tiến sĩ Trần Tuấn Lô. + Nam 1995 có “Khoa học và nghệ thuật giao tiếp” elu tác giả Trần Tuấn Lô: "Giao tiếp su phạm” của hai tác giá Hoàng Anh, Vũ Kim Thanh; "Kỹ năng giao tiếp của giáo sinh người dân tộc trong trường trung học sư phạm” của L. + Năm 1996 có "Nhập mon khoa học giao tiếp” của Giáo su Trần Trọng Thuỷ và Giáo sư Nguyễn Sinh Huy. + Năm 1997 có bài nghiên cứu của Lê Minh Nguyệt với để tài “Tìm hiểu thưc trang kỹ nang giao tiếp của sinh viên trường Cao Dang sư phạm Hà Nội có nhu cầu giao tiếp khác nhau”: “Bude đầu tim hiểu một số đặc điểm giao tiếp của sinh viên Đai học văn hoá` của Phan Thị Dung.
+ Năm 1998 có bài “Tim hiểu một số kỹ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên” của Nguyễn Thanh Bình + Năm 2001 tác giá Võ Sĩ Lục đã cho ra đời bài trắc nghiệm đánh giá kỹ ning giao tiếp nghiệp vụ của trình xút an ninh; "Vấn để giao tiếp sư phạm trong cấu trúc năng lực sư phạm` của tác giả Hoàng Anh. + Đồng thời năm 2001, Tiến si Bùi Ngoc Oánh có viết bài "Một số vấn dé về khái niệm giao tiếp”. đăng trong Kỷ yếu hội thảo khoa học - khoa TLGD, trường ĐHSP TP. Nhìn chung vấn để giao tiếp cũng rất được quan tâm nghiên cứu ở Việt Nam.
Tuy nhiên những bài nghiên cứu thường nghiên cứu vé những vấn dé chung của giao tiếp, một số bài nghiên cứu về kỹ năng giao tiếp. song chỉ tập trung vào nghiên cứu kỳ năng giao tiếp sư phạm của sinh viên các trường sư pham, các tac giả thừơng dé cập đến các kỹ năng sau: >» Nhóm kỹ năng định hướng giao tiếp. > Nhóm kỳ nang nhân biết những dấu hiệu bên ngoài của học sinh. » Kỹ năng định vị > Kỳ năng diéu chỉnh, điểu khiển trong quá trình giao tiếp sư phạm > Kỷ năng sử dụng phương tiện giao tiếp.
Cho đến nay. vấn để kỹ năng giao tiếp của học sinh THPT vẫn chưa được quan tâm nghiên cứu. đây là điểm mới mẽ cúa để tài. 16 Chương 2: CƠ SỞ LÍ LUẬN 2.1 Khái niệm giao tiếp Cho đến nay, vấn để giao tiếp trong tâm lí học vẫn đang là để tài hấp dẫn của những cuộc tranh luận khoa học.
Có thể nói có rất nhiều hướng nghiên cứu và quan niệm khác nhau về khái niệm giao tiếp, Mỗi một tác giả nhìn nhận khái niệm giao Liếp dưới góc đỗ khác nhau và đưa ra những khái niệm khác nhau. Sau đây là một số quan niệm về giao tiếp của một số tắc gid: + Quan niệm 1: chỉ đừng lại ở việc trao đổi thông tin giữa người với người như: * Theo K, K. G, Golulep cho rằng: “giao tiếp là sự trao đổi thong tin tiữa con người với nhau ”. Ecgyet — nhà tâm lí học người Mi đã không dùng thuật ngữ "giao tiếp” mà chỉ nói đến sự túc đông, sự truyền và tiến nhận thông báo và sự trao đối thông tin của con người.
* Theo M, Acgain -nhà tâm lí hoe người Anh, xem giao tiếp như một quá trình hai mặt của sự thông báo, thiết lập sự tiếp xúc và trao đổi thông tin, + Quan niệm 2: có phần mở rộng khái niệm giao tiếp, cho rằng giao tiếp có ca đ người và động vat.