Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1. KHÁI NIỆM VÀ Ý NGHĨA CỦA KỶ LUẬT LAO ĐỘNG 1. Khái niệm kỷ luật lao động Trƣớc khi tìm hiểu khái niệm về kỷ luật la o động, cần phải hiểu thế nào là kỷ luật? “Kỷ luật” hay “quy luật” là những trật tự, phép tắc đƣợc đặt ra để ngăn ngừa sự phóng túng, có thể làm hại cho bản thân hay cho ngƣời khác. Trong bất cứ một cộng đồng hay xã hội nào, dù lớn hay nhỏ, nếu kỷ luật không tồn tại, lợi ích của cả cộng đồng hay xã hội đó nói chung và của từng cá nhân nói riêng sẽ dễ dàng bị xâm hại.
Đồng thời, các mâu thuẫn và tranh chấp có thể phát sinh sẽ không thể đƣợc ngăn chặn hay giải quyết một cách triệt để, dẫn đến toàn bộ nền kinh tế - chính trị - xã hội của cả cộng đồng hay xã hội đó khó có thể phát triển ổn định và bền vững đƣợc. Kỷ luật là một khái niệm không mới và đã hình thành từ khá lâu trong tiến trình lịch sử với những quan điểm khác nhau. Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, “kỷ luật” đƣợc hiểu là trật tự nhất định trong hành vi của con ngƣời theo những chuẩn mực do luật pháp, đạo đức quy định trong từng thời kỳ lịch sử, vì lợi ích của toàn xã hội hay của giai cấp, tập đoàn xã hội riêng rẽ hay của một cộng đồng. Kỷ luật là phƣơng tiện để thống nhất hoạt động trong cộng đồng [26].
Theo từ điển Tiếng Việt, “kỷ luật” là tổng thể nói chung những điều quy định có tính chất bắt buộc đối với hoạt động của các thành viên trong một tổ chức để đảm bảo tính chặt chẽ của tổ chức đó [29]. Nhƣ vậy, tựu chung lại “kỷ luật” là tổng thể những trật tự, những quy tắc mà mỗi cá nhân phải tuân thủ khi tham gia vào hoạt động chung của một tổ chức, một tập đoàn hay bất kỳ mối quan hệ cộng đồng nào. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tùy theo tính chất của từng nhóm quan hệ xã hội cũng nhƣ yêu cầu, mục đích của các hoạt động chung mà có nhiều loại kỷ luật khác nhau nhƣ kỷ luật trong các đảng phái, các tổ chức xã hội, kỷ luật công chức trong các cơ quan nhà nƣớc, kỷ luật trong lực lƣợng vũ trang, kỷ luật trong các đơn vị kinh tế, trong đó kỷ luật lao động là một dạng của kỷ luật. Vậy kỷ luật lao động là gì? Nhƣ chúng ta đã biết, trong xã hội, nếu con ngƣời thực hiện các hoạt động lao động sản xuất đơn lẻ, tách rời nhau thì mỗi ngƣời tự sắp xếp quá trình lao động của mình, hoạt động của một ngƣời không ảnh hƣởng đến hoạt động của những ngƣời khác và ngƣợc lại.
Thế nhƣng điều đó không thể xảy ra, vì con ngƣời luôn tồn tại cùng với xã hội loài ngƣời. Trong cuộc sống, do nhiều lý do khác nhau nhƣ yêu cầu, điều kiện của quá trình lao động, mục đích, lợi ích, thu nhập. khiến ngƣời ta luôn có nhu cầu cùng thực hiện một khối lƣợng công việc nhất định. Chính quá trình lao động chung của con ngƣời đòi hỏi phải có trật tự, nền nếp để hƣớng hoạt động của từng ngƣời vào việc thực hiện kế hoạch chung và tạo ra kết quả chung đã định.
Cải tạo ra trật tự, nền nếp trong quá trình lao động chung giữa một nhóm ngƣời hay trong một đơn vị đó là kỷ luật lao động. Xét một cách tổng quát, kỷ luật lao động là trật tự, nền nếp mà người lao động phải tuân thủ khi tham gia vào quan hệ lao động. Dƣới góc độ pháp lý, kỷ luật lao động là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người lao động đối với các cơ quan, đơn vị, tổ chức cũng như các biện pháp xử lý đối với những người không chấp hành các quy định đó. Tính chất của kỷ luật trong quá trình lao động là do quan hệ sản xuất thống trị mà trƣớc hết là quan hệ sở hữu về tƣ liệu sản xuất quyết định.
Khi phƣơng thức sản xuất của xã hội thay đổi thì bản chất và hình thức của kỷ luật lao động cũng thay đổi theo. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Theo tiến trình lịch sử, loài ngƣời đã và đang trải qua năm hình thái kinh tế - xã hội và ở từng hình thái khác nhau thì mức độ, tính chất của kỷ luật lao động cũng đƣợc thể hiện theo những khía cạnh khác nhau. Dƣới chế độ Cộng sản nguyên thủy, bình đẳng và tự giác đƣợc xem là những quy tắc ứng xử quan trọng trong mọi quan hệ lao động. Chuyển sang thời kỳ chiếm hữu nô lệ, quyền lực của chủ nô là vô hạn tuyệt đối.
Mọi công sức, thành quả lao động của nô lệ đều thuộc quyền sở hữu của chủ nô. Vì thế tính chất của kỷ luật lao động ở thời kỳ này đƣợc đặc trƣng bằng chế độ cƣỡng bức và bóc lột tàn nhẫn ngƣời lao động. Sang chế độ phong kiến, nông nô là lực lƣợng sản xuất chủ yếu để duy trì sự tồn tại của chính quyền phong kiến, song họ vẫn phải chịu đời sống cực khổ, bị áp bức bóc lột nặng nề: tô thuế, lao dịch. Tổ chức lao động thời kỳ này đã dựa vào chế độ kỷ luật roi vọt và cƣỡng bức quần chúng nhân dân.
Tuy nhiên, so với chế độ chiếm hữu nô lệ, địa vị của ngƣời nông nô ở thời kỳ này cũng đã dần dần đƣợc cải thiện hơn. Chế độ tƣ bản chủ nghĩa đƣợc xây dựng trên nền tảng của quan hệ chiếm hữu tƣ nhân về tự liệu sản xuất, vì thế xét về bản chất đây vẫn là một xã hội bóc lột nhƣng ở mức độ tiến bộ và tinh vi hơn đó là bóc lột về giá trị thặng dƣ. Do đó, tổ chức lao động ở thời kỳ này chủ yếu dựa vào cƣỡng bức kinh tế đối với công nhân làm thuê. Có thể thấy rằng trong những hình thái kinh tế - xã hội có đối kháng giai cấp, kỷ luật lao động chủ yếu chỉ mang tính chất cƣỡng bực, đƣợc xem nhƣ là một biện pháp để tăng cƣờng bóc lột, buộc ngƣời lao động phải bỏ công sức của mình, phải tuân theo những chế độ kỷ luật nghiêm ngặt của giai cấp địa chủ để làm ra của cải vật chất phục vụ lợi ích của chính giai cấp địa chủ.
Khi xã hội loài ngƣời bƣớc sang hình thái kinh tế xã hội chủ nghĩa (XHCN) cũng chính là thời điểm hình thành và phát triển một chế độ kỷ luật 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lao động hoàn toàn mới. Tính chất của kỷ luật lao động thời kỳ này đƣợc thể hiện bởi mối quan hệ sản xuất XHCN trên tinh thần tự nguyện, tự giác của ngƣời lao động. Lúc này, ngƣời lao động đã thoát khỏi chế độ kỷ luật lao động hà khắc, bóc lột thô bạo mà thay vào đó là một chế độ làm việc công bằng, có trật tự, kỷ cƣơng trên cơ sở sức lao động tự nguyện. Lênin đã viết: “Tổ chức lao động XHCN thì dựa vào và ngày càng dựa vào kỷ luật tự nguyện tự giác của chính ngay những ngƣời lao động” [28].
Nhƣ vậy, chúng ta thấy rằng kỷ luật lao động trong mỗi thời kỳ, mỗi mối quan hệ xã hội khác nhau thì có những tính chất đặc thủ khác nhau. Tuy nhiên, điểm chung về kỷ luật lao động trong mỗi thời kỳ và mỗi mối quan hệ xã hội đó là tính trật tự, nền nếp mà ngƣời lao động phải tuân thủ khi tham gia vào quan hệ lao động để đảm bảo sự ổn định, năng suất chất lƣợng và hiệu quả của công việc. Trong quá trình lao động, để đảm bảo lợi ích của ngƣời sử dụng lao động cũng nhƣ trật tự lao động tại cơ sở sản xuất, kinh doanh nói chung, ngƣời sử dụng lao động có quyền ban hành ra những nguyên tắc, hình thức xử lý đối với những hành vi vi phạm kỷ luật lao động của ngƣời lao động. Trên cơ sở đó, ngƣời lao động có trách nhiệm phải tuân thủ những quy định này của ngƣời sử dụng lao động.
Trƣờng hợp ngƣời lao động không chấp hành các quy định đó, ngƣời lao động sẽ phải chịu hình thức xử lý kỷ luật tƣơng ứng với hành vi vi phạm của mình. Do vậy, dƣới góc độ pháp lý với tƣ cách là chế định của luật lao động, kỷ luật lao động có nghĩa là tổng hợp các quy phạm pháp luật quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của ngƣời lao động đối với ngƣời sử dụng lao động cũng nhƣ các hình thức, mức độ xử lý tƣơng ứng đối với những hành vi vi phạm kỷ luật lao động của ngƣời lao động. Khái niệm về kỷ luật lao động cũng đã đƣợc quy định trong các văn 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com bản pháp luật về lao động trƣớc đây. Cụ thể, theo quy định tại Điều 82 BLLĐ 1994 (SĐ, BS), kỷ luật lao động đƣợc hiểu là “những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ, điều hành sản xuất kinh doanh thể hiện trong nội quy lao động của đơn vị”.
Cũng theo Điều 3 Nghị định 41/CP, kỷ luật lao động đƣợc cụ thể hóa bao gồm những quy định về: (i) Chấp hành thời giờ làm việc, thời giờ nghỉ ngơi; (ii) Chấp hành mệnh lệnh điều hành sản xuất, kinh doanh của ngƣời sử dụng lao động; (iii) Chấp hành quy trình công nghệ, các quy định về nội quy an toàn lao động và vệ sinh lao động; (iv) Bảo vệ tài sản và bí mật công nghệ, kinh doanh thuộc phạm vi trách nhiệm đƣợc bàn giao. Hiện nay, theo BLLĐ 2012, khái niệm về kỷ luật lao động về cơ bản không thay đổi nhiều so với BLLĐ 1994 (SĐ, BS). Theo đó, Điều 118 BLLĐ 2012 quy định: “kỷ luật lao động là những quy định về việc tuân theo thời gian, công nghệ và điều hành sản xuất, kinh doanh trong nội quy lao động.” Tuy nhiên, trên thực tế thƣờng xảy ra sự nhầm lẫn trong quan niệm về kỷ luật lao động với kỷ luật của các tổ chức, đảng phái khác. Vậy chúng khác nhau nhƣ thế nào? Kỷ luật của các tổ chức, đảng phái là kỷ luật mang tính chất nội bộ, do tổ chức, đảng phái đó đề ra.
Trong khi đó, kỷ luật lao động là kỷ luật của Nhà nƣớc, đƣợc Nhà nƣớc quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Bên cạnh đó, cũng cần thiết phải phân biệt giữa kỷ luật lao động và kỷ luật công chức.