Chương 1: TỎNG QUAN TÀI LIỆU. 4 Chương 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN cứu. Đối tượng nghiên cứu. Thời gian và địa điểm nghiên cứu.
Thiết kế nghiên cứu. Mầu và phương pháp chọn mẫu. Phương pháp thu thập số liệu. Xử lý và phân tích số liệu.
Biến số nghiên cứu, các khái niệm dùng trong nghiên cứu. Khía cạnh đề đạo đức trong nghiên cứu .29 Chương 3: KÉT QUẢ NGHIÊN cứu. Thông tin chung về đối tượng nghiên cứu. Thực trạng THA của đối tượng nghiên cứu.
Kiến thức của NCT về THA. Thực hành phòng chống THA của NCT. Một số yếu tố liên quan .45 Chương 4: BÀN LUẬN. Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu.
Kiến thức phòng chống THA của đối tượng nghiên cứu. Thực hành phòng chống THA của đối tượng nghiên cứu. Một số yếu tố liên quan đến THA của đối tượng nghiêncứu .61 Chương 5: KÉT LUẬN. 64 Chương 6: KHUYÊN NGHỊ.
65 Tài liệu tham khảo. 66 Phụ lục 1: Phiếu đo HA của ĐTNC .71 Phụ lục 2A: Phiếu điều tra kiến thức, thực hành của NCT không THA.72 Phụ lục 2B: Phiếu điều tra kiến thức, thực hành của NCT có THA.76 Phụ lục 3: Hướng dần thảo luận nhóm. 81 Phụ lục 4: Bảng điểm đánh giá kiến thức, thực hành phòng chống THA.84 Phụ lục 5: Phương pháp đo HA.88 Phụ lục 5: Bản đồ huyện Thanh Miện.89 DANH MỤC CÁC BẢNG Trang Bảng 1: Phân bổ theo nhóm tuổi. 30 Bảng 2: Trình độ học vấn và nghề nghiệp của ĐTNC .31 Bảng 3: Nguồn thu nhập chính và thực trạng kinh tế của ĐTNC .32 Bảng 4: Tình trạng hôn nhân, tinh thần của ĐTNC .33 Bảng 5: Tiền sử THA của bản thân và gia đình ĐTNC .33 Bảng 6: Tỷ lệ THA của NCT tại thời điểm nghiên cứu .34 Bảng 7: Tỷ lệ THA phân theo nhóm tuổi .35 Bảng 8: Tình hình phát hiện THA .35 Bảng 9 : Hiểu biết về cách phát hiện THA và thời gian đi đo HA .36 Bảng 10: Hiểu biết về số đo HA .37 Bảng 11: Hiểu biết về các dấu hiệu của THA .37 Bảng 12: Hiểu biết về sự nguy hiểm của THA .38 Bảng 13: Hiểu biết về các biến chứng của THA .38 Bảng 14: Hiểu biết về các yếu tố nguy cơ gây THA .39 Bảng 15: Hiểu biết về cách phòng bệnh THA .39 Bảng 16: Kiến thức chung về phòng chống THA .40 Bảng 17: Thực hành kiểm tra HA của ĐTNC .41 Bảng 18: Cách theo dõi HA của ĐTNC .41 Bảng 19: Thực hành điều trị của NCT khi bị THA.42 Bảng 20: Thực hành dùng thuổc điều trị THA của NCT .43 Bảng 21: Thực hành thay đổi thói quen trong sinh hoạt của NCT.43 Bảng 22: Kết hợp điều trị của NCT khi bị THA .44 Bảng 23: Đánh giá chung về thực hành phòng chổng THA ở NCT.44 Bảng 24: Sự hồ trợ của gia đình trong phòng và điều trị THA .45 Bảng 25: Liên quan giữa tuổi của ĐTNC với THA .45 Bảng 26: Liên quan giữa trình độ học vấn với THA ở NCT.46 Bảng 27: Liên quan giữa giới tính, nghề nghiệp, tiền sử với tỷ lệ THA.46 Bảng 28: Liên quan giữa kiến thức phòng chống THA với tỷ lệ THA .47 Bảng 29: Liên quan giữa việc tiếp cận thông tin với tỷ lệ THA .47 Bảng 30: Liên quan giữa kiến thức với thực hành phòng chống THA .48 DANH MỤC BIẺU ĐÒ Trang Biểu đồ 1: Phân bố ĐTNC theo giới .31 Biểu đồ 2: Cơ cấu hộ gia đình của ĐTNC.32 Biểu đồ 3: Phân loại THA của NCT tại thời điểm nghiên cứu .34 Biểuđồ 4: Tỷ lệ NCT đã nghe/biết về bệnh THA.36 Biểuđồ 5: Tiếp cận nguồn thông tin về HA.40 Biểu đồ 6: Cách xử trí khi có dấu hiệu của THA .42 vi TÓM TẮT ĐÈ TÀI NGHIÊN cứu Ngày nay mô hình bệnh tật đã thay đổi từ nhóm các bệnh truyền nhiễm sang nhóm bệnh không truyền nhiễm và chấn thương và một trong những bệnh trong nhóm bệnh không truyền nhiễm đó là tăng huyết áp (THA).
THA hiện nay đang là vấn đề sức khoẻ của cộng đồng với tỷ lệ hiện mắc ngày càng tăng ảnh hưởng đến hơn 1 tỷ người trên toàn thế giới [42], Bệnh gây ra nhiều hậu quả nghiêm trọng như tai biến mạch não, suy tim, suy thận.đặc biệt là ở người cao tuôi. Theo điều tra của Tổ chức Y tế thế giới cho thấy số bệnh nhân THA không điều trị hoặc điều trị không đầy đủ chiếm khoảng 70-75% tổng số bệnh nhân THA trên toàn thế giới [42], Nghiên cứu của Assantachai và cộng sự (1998) tại Thái Lan cho thấy tỷ lệ NCT bị THA là 36,5% [34], Tại Ấn Độ (2001) tỷ lệ hiện mẳc THA của NCT là 65% [40]. Tại Việt Nam theo công trình nghiên cứu của Viện Bảo vệ sức khoẻ Người cao tuổi (Bộ Y tế), năm 1989 - 1991, tỷ lệ THA của NCT tại các vùng đại diện là: thành thị 33%, ven biển 26,2%, nông thôn 19,9% và miền núi 30,5% [16]. Theo Điều tra Y tế Quốc gia 2001- 2002 tỷ lệ người từ 60-69 tuổi tỉ lệ mắc THA là 30,6%; trên 70 tuổi tỉ lệ mắc THA là 47,4% [4], Thị trấn Thanh Miện là trung tâm kinh tế - chính trị của huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương, trong những năm qua cùng với đà phát triển đi lên của đất nước, đời sống của người dân nơi đây cũng không ngừng được cải thiện và nâng cao.
Mô hình bệnh tật cũng có nhiều thay đổi, trong đó tỷ lệ ngưòi THA có xu hướng gia tăng, đặc biệt là THA ở NCT. Tuy nhiên đến nay vẫn chưa có một nghiên cứu nào về THA ở NCT tại nơi đây. Câu hỏi của chúng tôi đặt ra là: Kiến thức, thực hành về phòng chống THA của NCT tại Thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương như thế nào? Đe trả lời câu hỏi trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu đề tài : “Kiến thức, thực hành phòng chong tăng huyết áp ở người cao tuổi và một so yếu tố liên quan tại Thị trấn Thanh Miện, huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương năm 2007 Thời gian tiến hành từ tháng 3/2007 đến tháng 9/2007. Đề tài sử dụng phương pháp nghiên cứu: Mô tả cắt ngang có phân tích, kết hợp giữa nghiên cứu định lượng và nghiên cứu định tính.
Nghiên cứu đã tiến hành phỏng vấn 398 NCT, tổ chức 2 cuộc thảo luận nhóm. Kết quả nghiên cứu cho thấy tỷ lệ NCT có THA là 32,9%; Tỷ lệ NCT có kiến thức về phòng chống THA đạt là: 30,6%; Tỷ lệ NCT có thực hành về phòng chống THA đạt là: 44,3%. Từ kết quả nghiên cứu chúng tôi thấy cần tăng cường giáo dục truyền thông nhằm nâng cao kiến thức, thực hành về phòng chống THA cho NCT, từ đó góp phần làm giảm tỷ lệ mắc THA, đồng thời hạn chế những biến chứng do THA gây ra góp phần nâng cao hiệu quả công tác chăm sóc sức khỏe cho NCT trên địa bàn đế NCT sống vui, sống khoẻ, sống có ích cho xã hội. 1 ĐẶT VẤN ĐẺ Trong những năm qua với những tiến bộ khoa học kỹ thuật vượt bậc trên mọi lĩnh vực, chất lượng cuộc sống của con người ngày càng được nâng cao, tuổi thọ trung bình của con người đã tăng thêm gần 30 năm trong vòng một thế kỷ qua, cùng với đó số lượng người cao tuổi đang tăng lên nhanh chóng trên phạm vi toàn cầu.
Theo Tổ chức Y tế thế giới dự báo năm 2025 sẽ có khoảng 1,2 tỷ người cao tuổi (> 60 tuổi), năm 2050 sẽ có khoảng 2 tỷ người cao tuổi chiếm 22% dân số thế giới và 80% trong số đó sẽ sống tại các nước đang phát triển [41], Việt Nam với những nét đặc thù của một nước đang phát triển, tuổi thọ và số người cao tuổi ở nước ta cũng ngày càng tăng. Theo kết quả Tổng điều tra Dân số năm 1999 cả nước có 6,19 triệu người cao tuổi, năm 2004 là 6,6 triệu, năm 2005 là 7,4 triệu [24] và dự kiến năm 2029 sẽ là 16,5 triệu [20]. Vấn đề người cao tuổi hiện nay không chỉ là mối quan tâm của mỗi quốc gia mà còn là mối quan tâm của toàn thế giới và cả cộng đồng. Tuổi già thường đi đôi với sức khoẻ yếu và bệnh tật, trung bình một người cao tuổi mắc 2,69 bệnh, chủ yếu là các bệnh mãn tính, không lây truyền [29], Một trong những bệnh thường gặp ở người cao tuổi là bệnh tăng huyết áp.
Tăng huyết áp và các biến chứng của nó là một trong những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong các bệnh tim mạch. Bệnh xảy ra âm thầm, triệu chứng cơ năng không có hoặc có rất nghèo nàn, nhưng nhận biết lại khá dễ chỉ cần đo huyết áp. Neu người bệnh không được phát hiện sớm, không tuân thủ chế độ điều trị nghiêm túc lâu dài và không được theo dõi chặt chẽ sẽ dẫn đến các biến chứng rất nặng nề hoặc gây tử vong hoặc tàn phể suốt đời. Nghiên cứu của Assantachai và cộng sự (1998) tại Thái Lan cho thấy tỷ lệ người cao tuổi bị tăng huyết áp là 36,5% [34], Tại Án Độ (2001) tỷ lệ hiện mắc tăng huyết áp của người cao tuổi là 65% [40].
Tại Việt Nam theo công trình nghiên cứu của Viện Bảo vệ sức khoẻ Người cao tuổi (Bộ Y tế), năm 1989 - 1991, tỷ lệ tăng huyết áp của người cao tuổi tại các vùng đại diện là: thành thị 33%, ven biển 26,2%, nông thôn 19,9% và miền núi 30,5% [16], Theo Điều tra Y tế Quốc gia 2001- 2002 tỷ lệ người từ 60-69 tuổi tỷ lệ mắc 2 THA là 30,6%; trên 70 tuổi tỉ lệ mắc THA là 47,4% [4]. Vì vậy việc xác định thực trạng tăng huyết áp cũng như kiến thức, thực hành phòng chống tăng huyết áp ở người cao tuổi là rất cần thiết, vì trên cơ sở đó chúng ta mới có thể xây dựng các chương trình truyền thông giáo dục sức khỏe phù hợp, giúp cho người cao tuổi tự bảo vệ và chăm sóc sức khỏe cho mình để người cao tuổi sổng vui, sống khỏe, sống có ích cho xã hội. Thị trấn Thanh Miện trung tâm kinh tế - chính trị của huyện Thanh Miện, tỉnh Hải Dương với tiềm năng và thế mạnh của mình đang phát triển mạnh mẽ về kinh tế, văn hoá, xã hội, cuộc sống của người dân nơi đây ngày càng được cải thiện và nâng cao. Theo xu thế chung mô hình bệnh tật tại thị trấn Thanh Miện cũng thay đổi, các bệnh truyền nhiễm và nhiễm trùng giảm hẳn và thay vào đó là các bệnh mạn tính, trong đó tăng huyết áp có xu thế gia tăng, đặc biệt là tăng huyết áp ở người cao tuổi.