ĐẶT VẤN ĐỀ Già hóa dân số là một trong các khuynh hƣớng nhân khẩu học nổi bật của thế kỷ 21. Già hóa dân số tạo ra những thách thức về xã hội, kinh tế và văn hóa nhƣng cũng là những cơ hội vô cùng to lớn đối với mỗi cá nhân, gia đình, xã hội và cộng đồng. Hiện nay, trên thế giới, cứ 10 ngƣời thì có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên. Dự báo đến năm 2050 cứ 5 ngƣời thì có một ngƣời từ 60 tuổi trở lên.
Chính vì vậy già hóa dân số là một vấn đề xã hội cần đƣợc đặc biệt quan tâm. Việt Nam không nằm ngoài xu thế toàn cầu đó[1]. Theo số liệu Điều tra biến động dân số ngày 01 tháng 4 năm 2013, tỷ lệ ngƣời từ trên 60 tuổi là 10,5%, trên 65 tuổi là 7,2%. Dân số Việt Nam đã chính thức bƣớc vào già hóa dân số sớm hơn 6 năm so với dự báo từ kết quả Tổng điều tra dân số năm 2009[24].
Tuổi già đến cũng đồng nghĩa với sự suy yếu về sức khỏe. Ở nƣớc ta, số NCT mắc từ 2 bệnh trở lên chiếm tỷ lệ trên 70%, trung bình một ngƣời mắc 2,7 bệnh. Tuổi càng cao càng nhiều nguy cơ bị mắc bệnh, nhất là bệnh mạn tính và bệnh thoái hóa[3]. Trong Điều tra về NCT Việt Nam năm 2011, kết quả chủ yếu cho thấy, tình trạng sức khỏe hiện tại do NCT tự đánh giá thấp hơn so với các cuộc điều tra, nghiên cứu trƣớc đây với khoảng 2/3 NCT tự đánh giá có sức khỏe yếu hoặc rất yếu.
Tỷ lệ NCT cho rằng sức khỏe của họ tốt hoặc rất tốt chỉ chiếm 5%[43]. Vậy làm sao để có sức khỏe? Ai cũng ý thức đƣợc rằng “sức khỏe quý hơn vàng”, do đó mà từ hàng nghìn năm trƣớc công nguyên, con ngƣời đã biết tìm đến luyện tập, một phƣơng pháp giữ gìn, nâng cao sức khỏe, phòng chống bệnh tật. Hippocrate (460-370 TCN) coi luyện tập là một phần quan trọng của y học cổ đại. Nhà bác học nổi tiếng Avixen (930- 1037) đã khẳng định rằng tập luyện là phƣơng pháp hiệu quả nhất trong hệ thống các biện pháp giữ gìn và nâng cao sức khỏe.
Nhà hiền triết Hy Lạp cổ đại Aristốt (384-322 TCN) đã có những câu nói nổi tiếng về sự cần thiết phải vận động: “Không có gì làm kiệt sức và hủy hoại sức khỏe con ngƣời bằng sự ì trệ kéo dài” và “ì trệ có nghĩa là bắt đầu bệnh tật”[4]. 2 Tuy nhiên, tất cả những tiện nghi trong cuộc sống hiện đại ngày nay lại khuyến khích cho sự ít hoạt động. Sự lƣời biếng thực sự là một mối nguy hại cho sức khỏe. Ƣớc lƣợng có khoảng 150.000 ngƣời chết hằng năm do hậu quả của việc ít vận động.
Lối sống tĩnh tại là mối nguy cơ trầm trọng cho sức khỏe, nó giống nhƣ việc hút thuốc lá hay việc lái xe hơi sau khi uống rƣợu. Những chứng bệnh liên quan đến việc ít vận động nhƣ: béo phì, tăng huyết áp, tiểu đƣờng, cơ, xƣơng, khớp và những vấn đề tâm lý là một thách thức lớn cho sức khỏe cộng đồng trong thế giới phát triển và nó đƣợc xem nhƣ một bệnh dịch toàn cầu[41]. Đối với NCT, lối sống vận động, tập luyện TDTT giúp tăng cƣờng sức mạnh về tinh thần, tăng sự hứng thú trong cuộc sống, giảm căng thẳng; Kéo dài tuổi thọ; Tăng khả năng lao động, phục vụ bản thân và gia đình; Phát triển các tố chất thể lực, duy trì dẻo dai và chống lại sự lão hóa của hệ vận động; Giảm nguy cơ mắc bệnh đái tháo đƣờng, các bệnh tim mạch. Tuy nhiên, những nghiên cứu về vấn đề liên quan đến RLTC của NCT còn hết sức khiêm tốn tại Việt Nam.
Để có đƣợc một bức tranh mô tả kiến thức, thái độ, thực hành của NCT về RLTC, tìm hiểu những thuận lợi và rào cản liên quan đến RLTC thì việc nghiên cứu về lĩnh vực này thực sự mang tính nhân văn và rất cần thiết. Phƣờng Ngọc Khánh nổi tiếng là lá cờ đầu về phong trào RLTC trong quận Ba Đình. Liệu có sự ảnh hƣởng của phong trào với thực trạng việc RLTC của đông đảo NCT tại địa bàn này? Để trả lời câu hỏi và với mong muốn kết quả nghiên cứu có thể đƣa ra một số khuyến nghị cho việc hoạch định chính sách trong bối cảnh ứng phó với già hóa dân số, gợi ý cho các thông điệp tuyên truyền phù hợp và hiệu quả nhằm khuyến khích, cổ vũ NCT RLTC, dự phòng bệnh tật, nâng cao sức khỏe, góp phần mang lại lợi ích chung cho cộng đồng và xã hội chính là những điều thôi thúc học viên thực hiện đề tài nghiên cứu: “Kiến thức, thái độ, thực hành và một số yếu tố liên quan đến rèn luyện thể chất của ngƣời cao tuổi tại phƣờng Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội, năm 2014”. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 1.
Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành đối với việc rèn luyện thể chất của ngƣời cao tuổi tại phƣờng Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội, năm 2014. Xác định một số yếu tố liên quan đến thực hành rèn luyện thể chất của ngƣời cao tuổi tại phƣờng Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội, năm 2014. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm rèn luyện thể chất, người cao tuổi và tình hình người cao tuổi hiện nay 1.
Khái niệm về rèn luyện thể chất Rèn luyện: luyện tập một cách thƣờng xuyên để đạt tới những phẩm chất hay trình độ ở một mức nào đó. Thể chất: cơ thể con ngƣời nói về mặt sức khỏe[18]. RLTC là thực hiện một số kiểu rèn luyện thân thể, luyện tập một cách đều đặn, đạt tới mức thành thạo và tính bền bỉ, trở thành kỹ năng và thói quen rèn luyện giúp cho cơ thể khỏe mạnh, cƣờng tráng, dẻo dai, ít ốm đau, bệnh tật. RLTC có thể hiểu theo nghĩa rộng, trong đó bao hàm rèn luyện TDTT để giữ gìn và nâng cao sức khỏe.
Khái niệm về ngƣời cao tuổi NCT là ngƣời từ 60 tuổi trở lên theo quy ƣớc chung của Liên hiệp quốc và theo Luật NCT Việt Nam. Trong những năm gần đây, nhà nƣớc đã sử dụng khái niệm “NCT” thay cho “ngƣời già”. Tuy tuổi cao, nhƣng nhiều ngƣời trên 60 tuổi vẫn tích cực hoạt động trên nhiều lĩnh vực xã hội và cuộc sống gia đình, vì vậy cụm từ “NCT” bao hàm sự kính trọng, động viên hơn so với cụm từ “ngƣời già”. Tuy nhiên, về khía cạnh sinh học thì ngƣời già hay NCT đều đƣợc dùng với ý nghĩa nhƣ nhau về sự lão hóa.
Trong dân số học, ngƣời ta thƣờng chia nhóm từ 60 tuổi trở lên ra 3 loại: Nhóm rất già từ 80 tuổi trở lên; nhóm trung bình từ 70-80 tuổi và nhóm còn năng động từ 60-70 tuổi[22, 23]. Tình hình ngƣời cao tuổi hiện nay Trong những thập kỷ gần đây, tuổi thọ trung bình của con ngƣời trên thế giới, đặc biệt ở các nƣớc phát triển, tăng một cách đáng kể. Đạt đƣợc điều đó là nhờ các thành tựu của y học trong công tác phòng và chữa bệnh. Song song với việc tăng tuổi thọ trung bình, số lƣợng NCT ngày càng nhiều.
Năm 1950 số NCT trên toàn thế giới là 200 triệu, đến năm 1975 là 350 triệu, năm 2000 là 590 triệu và ƣớc tính đến năm 2025 sẽ là 1. Nhƣ vậy trong vòng 75 năm (từ 1950-2025) số NCT trên thế giới tăng lên 423%, một sự tăng trƣởng hết sức nhanh[11]. 5 Theo thống kê, vào năm 2009, tuổi thọ trung bình của ngƣời Việt Nam đã đạt đƣợc 72,8 tuổi, tăng 4,3 tuổi so với năm 1999. Tuy nhiên, số năm trung bình sống khỏe mạnh chỉ đạt 66 tuổi và xếp thứ 116/182 nƣớc trên thế giới.
Tính trung bình, mỗi ngƣời Việt Nam có tới 14 năm sống ốm đau, bệnh tật. Các mô hình bệnh tật cũng đang chuyển từ các bệnh truyền nhiễm sang bệnh không lây nhiễm nhƣ tim mạch, ung thƣ, tiểu đƣờng, tâm thần,. đòi hỏi chi phí cho chăm sóc y tế cao hơn và nguy cơ bị tàn tật cũng cao hơn. Chăm sóc y tế cho NCT mặc dù đã đƣợc cải thiện, song khả năng tiếp cận của nhóm ngƣời có thu nhập thấp còn rất hạn chế.
Chi phí trung bình cho điều trị ở NCT thƣờng cao gấp 7-8 lần so với trẻ em. Vì vậy quan tâm đến vấn đề chăm sóc sức khỏe NCT là việc làm hết sức cần thiết. Lối sống đối với quá trình lão hóa “Khôn không tới trẻ, khỏe không tới già” là một câu thành ngữ của ngƣời Việt. Thực tế cho thấy nói tới già là nói tới sự suy yếu về sức khỏe, tuổi già sức yếu, vì vậy nguyện vọng sâu xa nhất của NCT là có đƣợc sức khỏe, sống không phải lệ thuộc vào ngƣời khác.
Con ngƣời sinh ra, lớn lên, trƣởng thành và già, đó là một quy luật tất yếu khách quan. Già là một hiện tƣợng tự nhiên không thể tránh đƣợc của tất cả mọi ngƣời, nhƣng quá trình già ở mỗi ngƣời rất khác nhau. Có ngƣời già nhanh, “lão suy” sớm, có ngƣời còn hoạt bát nhanh nhẹn, khỏe mạnh cả khi tuổi đã khá cao. Điều này phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó chăm sóc sức khỏe, phòng và chữa bệnh kịp thời đóng vai trò quan trọng giúp cho quá trình lão hóa đến chậm hơn.
Trong chiến lƣợc “Sức khỏe cho mọi ngƣời đến năm 2005” của Tổ chức Y tế thế giới, lối sống là một trọng tâm. Khái niệm về lối sống là rất hữu ích cho nghiên cứu cuộc sống hàng ngày của con ngƣời: phản ánh hành vi hàng ngày đƣợc biểu lộ ra ngoài, những mối quan tâm của từng ngƣời và của nhóm xã hội. Ai cũng nhận thấy là cho đến khi tuổi già, một số ngƣời vẫn duy trì đƣợc sức khỏe dẻo dai, tinh thần sảng khoái, vẻ ngoài trẻ trung, tính tình vui vẻ, lạc quan. Trong khi đó một số khác mập lên và mau chóng trở nên trì trệ.
Kết quả xem xét tiểu sử, lối sống trƣớc kia cho thấy sự khác biệt giữa hai nhóm trên đã có từ sớm, tuổi già chỉ là lúc sự khác biệt trở nên rõ hơn[30]. 6 Một câu hỏi đƣợc đặt ra là yếu tố di truyền và lối sống quyết định tới mức nào về tốc độ suy giảm hiệu quả của các cơ chế thích nghi trong già hóa. Với những ngƣời vận động nhiều, 25-30 năm sau quá trình lão hóa ở họ sẽ bắt đầu từ mức có các thông số sinh lý cao; cho nên ở độ tuổi 60 ngƣời đó có phong độ tốt hơn so với ngƣời trẻ hơn 10-20 tuổi nhƣng lƣời vận động, kém rèn luyện để có sức khỏe dẻo dai. Cơ chế mà sự vận động tác động lên cơ thể là nhiều mặt và khá phức tạp.