ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo mẫu xe lăn điện cho người khuyết tật & người già Mã số đề tài: T - KTGT - 2011 - 33 Thời gian thực hiện: 03/2011 - 09/2012 Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Hữu Hường Cán bộ tham gia đề tài: TS. Nguyễn Lê Duy Khải ThS. Nguyễn Đình Hùng ThS.
Trần Đăng Long TP. Hồ Chí Minh - Tháng 05/2012 Danh sách các cán bộ tham gia thực hiện đề tài (Họ tên, học hàm, học vị, đơn vị công tác) 1. Nguyễn Lê Duy Khải Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT 2. Nguyễn Đình Hùng Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT 3.
Trần Đăng Long Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT và các cộng sự khác Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT TÓM TẮT Nhằm đáp ứng nhu cầu tự đi lại của người khuyết tật và người già, từ nhiều thập niên qua, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp đã thiết kế - chế tạo nhiều loại xe lăn (lăn tay, lăn điện). Những phương tiện này đã giúp ích nhiều cho người khuyết tật có thể tự mình di chuyển đi làm dễ dàng hay người già có thể tự đi lại thư giãn. Càng ngày các mẫu mã xe lăn càng trở nên phong phú và tiện ích hơn cho người sử dụng. Trước đây xe lăn chỉ đơn thuần là xe thô sơ, chủ yếu dùng sức của đôi tay để di chuyển như: xe lăn tay khung cứng, sau đó là xe khung gấp, rồi xe lăn có thể tự điều chỉnh tư thế nằm ngồi, xe có ghế vệ sinh và tiếp đến là xe có gắn động cơ giúp người sử dụng không phải dùng nhiều đến sức của đôi tay khi di chuyển nữa.
Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều cơ sở sản xuất xe lăn tay phục vụ người khuyết tật và người già. Thị trường Việt Nam cũng nhập khẩu nhiều mẫu xe lăn điện phục vụ người khuyết tật đi lại. Giá thành xe lăn điện nhập ngoại khá cao, không phù hợp điều kiện kinh tế của người khuyết tật và người già. Đề tài nhằm nghiên cứu thiết kế, chế tạo mẫu xe lăn điện phục vụ người khuyết tật và người già đạt các yêu cầu: công nghệ chế tạo đơn giản - có thể thi công trong nước; giá rẻ - phù hợp hoàn cảnh kinh tế của người khuyết tật và người già; khi điện yếu hay hết điện thì xe trở về xe lăn tay - điều này không thể có ở xe điện nhập ngoại.
Mẫu xe lăn điện được thiết kế chế tạo gồm: - Xe lăn tay dạng khung xếp, có lắp dàn trục đỡ bánh chủ động phía trước dẫn động bằng mô men từ motor điện qua bộ truyền xích nhờ cơ cấu gài then hoa. - Lắp motor điện DC 200W, bình accu Lithium 24V và hệ thống điện tương thích để sạc bình khi accu yếu điện (kèm bộ sạc). Khi accu yếu điện và không có địa điểm để sạc bình, người sử dụng xe có thể lăn bằng tay đưa xe đến nơi có điện gần nhất hoặc về nhà để sạc lại. Mẫu xe lăn điện thiết kế có thể chạy với tốc độ tối đa đến 8,5 km/h và khắc phục độ dốc đến 80.
ĐẶT VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU MẪU XE LĂN ĐIỆN I. TÌNH HÌNH VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM 1. Tình trạng của người khuyết tật Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết ở Việt Nam có trên 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,34% dân số [VnMedia. Điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra vả lại hậu quả mấy chục năm chiến tranh còn kéo dài nên số lượng người tàn tật ở Việt Nam là khá lớn.
Thực ra, Việt Nam chưa có một cuộc điều tra có quy mô toàn quốc đủ lớn và toàn diện về vấn đề người tàn tật để có những số liệu đáng tin cậy: tổng số người tàn tật, độ tuổi, giới tính, nguyên nhân, các dạng tàn tật, những thông tin về đặc tính của người tàn tật, các dạng dịch vụ mà những người tàn tật được thụ hưởng cũng như nhu cầu của người tàn tật… Trong những năm gần đây, với chức năng, nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức, cơ quan Việt Nam đã tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát về vấn đề người khuyết tật. Song các cuộc điều tra này với quy mô hạn hẹp chỉ phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa phương. Đó là chưa kể đến sự thiếu nhất quán, không rõ ràng ngay từ những khái niệm, định nghĩa, cho tới các tiêu chí phân loại, các chỉ tiêu đánh giá, nội dung và phương thức tiến hành của các cuộc khảo sát về vấn đề người tàn tật đã dẫn đến kết quả là nhiều số liệu còn thiếu, hoặc trùng lặp, các kết quả điều tra khảo sát chưa phản ánh đầy đủ về hiện trạng vấn đề người tàn tật Việt Nam, nhiều khi các số liệu khác biệt nhau quá lớn và không thể so sánh với nhau được… Hàng năm Trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai và Hội từ thiện Latter Day Saint phân phát hơn 2000 xe lăn cho các tỉnh ở hai miền Nam Bắc. Tham khảo các báo cáo kết quả điều tra của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, các tài liệu khảo sát của Bộ Giáo dục, Bộ Y Tế, các số liệu báo cáo của mạng lưới chỉnh hình phục hồi chức năng, ý kiến của cộng đồng, các tài liệu nghiên cứu, khảo sát của một số tổ chức Quốc tế đã tiến hành tại Việt Nam, thực trạng về người tàn tật trong đó có người khiếm thị ở Việt Nam có thể được phản ánh theo các điểm sau đây: Các dạng dị tật chủ yếu và các nguyên nhân: - Các dạng dị tật: Bảng 1.
Các dạng dị tật Dạng tật Vận động Thị giác Thính giác Ngôn ngữ Trí tuệ Thần kinh Tỉ lệ % 35,46 15,70 9,21 7,92 9,11 13,93 -1- Hình 1. Đồ thị phản ánh tỉ lệ các dạng dị tật - Nguyên nhân của các dạng tật Bảng 1. Bảng kê nguyên nhân của các dạng tật TT Nguyên nhân Tỉ lệ % so với người tàn tật Tỉ lệ % Nam % Nữ % 1 Bệnh tật 35,75 29,75 46,11 2 Bẩm sinh 34,15 30,44 40,61 3 Tai nạn chiến tranh 19,07 27,07 5,14 4 Tai nạn giao thông 5,52 6,75 3,38 5 Nguyên nhân khác 3,55 3,63 3,44 6 Tai nạn lao động 1,98 2,36 1,32 Tổng cộng 100 100 100 Các bảng trên đây cho thấy người tàn tật cơ quan vận động chiếm tỉ lệ cao nhất: 35,46% sau đó là thị giác: 15,70 % và thần kinh chiếm: 13,93%. Nguyên nhân dẫn tới khuyết tật là do: Bẩm sinh chiếm 34,15%, bệnh tật chiếm: 35,75% và tai nạn chiến tranh là 19,07%.
Riêng nguyên nhân tai nạn chiến tranh tỉ lệ nam tàn tật cao hơn nhiều so với tỉ lệ của nữ. Tỉ lệ người đa tật chiếm khá 20,22% trong tổng số nguời khuyết tật. Vấn đề đi lại của người khuyết tật Phần lớn người khuyết tật sống cùng với gia đình chiếm tỉ lệ 95,85 %; số người khuyết tật sống độc thân chiếm 3,31%; tỉ lệ người khuyết tật sống trong các trại bảo trợ xã hội của Nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi từ 15 đến 55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi -2- dưới 15 chiếm 28,85%); người khuyết tật sống lang thang là 0,62% [www. Vẫn còn khó khăn khi người khuyết tật đi ra ngoài một mình, vì thành phố thiếu những đường đi và phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt dành cho người khuyết tật.
Việt Nam chưa có cơ sở hạ tầng như: những lối đi trong công viên công cộng, dành cho người khuyết tật và hệ thống giao thông hữu ích để người khuyết tật có thể đi ra ngoài mà không cần nhiều đến sự trợ giúp của người nhà.net về chương trình người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng: phần lớn các công trình đang xây dựng, và sử dụng đều thiếu phương tiện và trang thiết bị cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội. Cả nước có hơn 400 cơ sở sản xuất với trên 20.000 lao động là người khuyết tật, 2.5% trong 5 triệu người khuyết tật được đào tạo; 58,18% số người tàn tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau [www. Tỉ lệ người khuyết tật có nhu cầu sống chưa có việc làm là 30,43%. Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có số người khuyêt tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41,86% và 35,77%.
Đây là một nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong các chương trình, dự án hỗ trợ người khuyết tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng. Một nguyên nhân khác theo quy định tỷ lệ 2% người tàn tật vào làm việc ở các cơ quan hành chính, doanh nghiệp chưa được thực hiện [Nghị định 81/CP, ngày 25/11/2005 của Chính Phủ quy định]. Nhà nước cũng chưa có chế tài, chưa có cơ quan nào được phân công giám sát các cơ quan hành chính, doanh nghiệp thực hiện quy định này. Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 5 triệu người khuyết tật, chiếm 6,4% dân số.
Người ở độ tuổi lao động chiếm 69% và 50% số này đang tham gia sản xuất. Luật pháp VN quy định các doanh nghiệp trên lãnh thổ có trách nhiệm nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc với tỉ lệ 2% - 3% so với tổng số lao động. Doanh nghiệp nào không thực hiện được thì phải trích một phần lợi nhuận để đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật. Điều gây trở nhất cho sự hoà nhập cộng đồng của người khuyết tật là việc đi lại.
Hạ tầng giao thông của ta vừa thiếu lại yếu, gây nhiều khó khăn cho việc đi lại cho cả những người lành lặn, với người khuyết tật còn phải chịu khó khăn hơn nhiều. Để sinh sống, người khuyết tật cũng cần di chuyển hàng ngày (đi học, đi làm, đến các cơ quan), đi dạo hay đi thăm bạn bè người thân (đối với cả người già và người khuyết tật). -3- Ở Việt Nam hiện nay các phương tiện giao thông công cộng đều chưa lưu tâm nhiều đến người khuyết tật. Kết cấu xe chưa có các thiết bị phù hợp cho người khuyết tật.
Trong xây dựng cũng vậy, không có đường dốc hay tay vịn dành riêng cho người khuyết tật.