Nghiên Cứu Khoa Học: Thiết Kế Và Chế Tạo Mẫu Xe Lăn Điện Dành Cho Người Khuyết Tật Và Người Già

Tài liệu nghiên cứu Đề tài nghiên cứu khoa học cấp trường nghiên cứu thiết kế chế tạo mẫu xe lăn điện cho người khuyết, tổng hợp lý thuyết và thực hành, cung cấp kiến thức chuyên

Chuyên ngành

Kỹ thuật Giao thông

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Báo cáo tổng kết kết quả đề tài NCKH cấp trường

2012

51
4
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

I. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU MẪU XE LĂN ĐIỆN

I.1. TÌNH HÌNH VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM

I.1.1. Tình trạng của người khuyết tật

I.1.2. Vấn đề đi lại của người khuyết tật

I.2. PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

I.2.1. Các kiểu loại xe lăn

I.2.2. Đánh giá các loại xe lăn cho người khuyết tật

I.3. MỤC ĐÍCH VÀ NỘI DUNG NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI

I.3.1. Mục đích nghiên cứu xe lăn điện cho người khuyết tật

I.3.2. Nội dung nghiên cứu của đề tài

II. PHƯƠNG ÁN NGHIÊN CỨU MẪU XE LĂN ĐIỆN

II.1. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU THIẾT KẾ MẪU XE LĂN ĐIỆN

II.1.1. Tiêu chuẩn xe lăn điện

II.1.2. Phương pháp nghiên cứu

II.2. PHƯƠNG ÁN XE LĂN ĐIỆN CHO NGƯỜI KHUYẾT TẬT

II.2.1. Phân tích, chọn phương án bố trí chung

II.2.1.1. Chọn xe lăn tay cơ sở (xe nền)
II.2.1.2. Chọn phương án bố trí chung xe lăn điện

II.2.2. Phân bố tải trọng

II.2.3. Kiểm tra ổn định, động học quay vòng xe

II.2.3.1. Kiểm tra ổn định tĩnh
II.2.3.2. Kiểm tra động học quay vòng xe

Tóm tắt

I. Giới thiệu về xe lăn điện và nhu cầu thực tế

Xe lăn điện là một giải pháp di chuyển hiện đại dành cho người khuyết tậtngười già, giúp họ tự chủ trong sinh hoạt hàng ngày. Tại Việt Nam, nhu cầu về xe lăn điện ngày càng tăng do sự gia tăng dân số già và số lượng người khuyết tật. Tuy nhiên, giá thành cao của các sản phẩm nhập khẩu là rào cản lớn. Đề tài này tập trung vào thiết kế xe lănchế tạo xe lăn với công nghệ đơn giản, giá rẻ, phù hợp với điều kiện kinh tế của người dùng.

1.1. Tình hình người khuyết tật và người già tại Việt Nam

Theo Bộ Lao động Thương binh Xã hội, Việt Nam có hơn 5,3 triệu người khuyết tật, chiếm 6,34% dân số. Nguyên nhân chủ yếu là do bệnh tật, bẩm sinh và hậu quả chiến tranh. Người khuyết tậtngười già gặp nhiều khó khăn trong di chuyển do thiếu cơ sở hạ tầng phù hợp. Xe lăn điện được xem là giải pháp hữu hiệu để hỗ trợ họ trong sinh hoạt hàng ngày.

1.2. Nhu cầu về xe lăn điện

Xe lăn điện không chỉ giúp người dùng di chuyển dễ dàng mà còn đảm bảo sự thoải máian toàn cho người sử dụng. Tuy nhiên, giá thành cao của sản phẩm nhập khẩu khiến nhiều người không thể tiếp cận. Đề tài này hướng đến việc cải tiến công nghệ để tạo ra sản phẩm giá rẻ, phù hợp với điều kiện kinh tế của người dùng.

II. Thiết kế và chế tạo xe lăn điện

Đề tài tập trung vào thiết kế xe lănchế tạo xe lăn dựa trên nền tảng xe lăn tay hiện có. Mẫu xe được thiết kế với tính năng xe lăn điện như tốc độ tối đa 8,5 km/h và khả năng vượt dốc lên đến 8 độ. Công nghệ hỗ trợ được áp dụng để đảm bảo sự tiện lợian toàn cho người sử dụng.

2.1. Cấu tạo và tính năng của xe lăn điện

Mẫu xe lăn điện bao gồm khung xếp, motor điện DC 200W, bình accu Lithium 24V và hệ thống điện tương thích. Khi hết điện, xe có thể chuyển sang chế độ lăn tay, giúp người dùng tiếp tục di chuyển. Tính năng an toàntính di động được ưu tiên trong thiết kế.

2.2. Phương án bố trí chung

Ba phương án bố trí động cơ được đề xuất: bánh sau, bánh trước và bánh giữa trước ghế ngồi. Phương án bánh giữa được chọn do tính nhỏ gọn và không gian quay vòng tối ưu. Thiết kế thân thiệndễ sử dụng là tiêu chí hàng đầu.

III. Đánh giá và ứng dụng thực tế

Mẫu xe lăn điện được đánh giá cao về tính năng xe lăn điệngiá thành phù hợp. So với sản phẩm nhập khẩu, xe có ưu điểm vượt trội về khả năng chuyển đổi giữa chế độ điện và tay lăn. Giải pháp di chuyển này không chỉ hỗ trợ người dùng mà còn góp phần tạo việc làm cho người lao động trong nước.

3.1. Đánh giá hiệu quả kinh tế

Giá thành sản xuất xe lăn điện trong nước thấp hơn nhiều so với sản phẩm nhập khẩu, phù hợp với điều kiện kinh tế của người khuyết tậtngười già. Điều này giúp tăng khả năng tiếp cận của người dùng.

3.2. Ứng dụng thực tế

Xe lăn điện được thiết kế để sử dụng trong nhà, công viên và các khu vực công cộng. Sự thoải máian toàn cho người sử dụng được đảm bảo thông qua các tính năng như tốc độ ổn định và khả năng vượt dốc. Đây là giải pháp di chuyển hiệu quả cho người khuyết tật và người già.

21/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP.HCM TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA BÁO CÁO TỔNG KẾT KẾT QUẢ ĐỀ TÀI NCKH CẤP TRƯỜNG Tên đề tài: Nghiên cứu thiết kế, chế tạo mẫu xe lăn điện cho người khuyết tật & người già Mã số đề tài: T - KTGT - 2011 - 33 Thời gian thực hiện: 03/2011 - 09/2012 Chủ nhiệm đề tài: TS. Nguyễn Hữu Hường Cán bộ tham gia đề tài: TS. Nguyễn Lê Duy Khải ThS. Nguyễn Đình Hùng ThS.

Trần Đăng Long TP. Hồ Chí Minh - Tháng 05/2012 Danh sách các cán bộ tham gia thực hiện đề tài (Họ tên, học hàm, học vị, đơn vị công tác) 1. Nguyễn Lê Duy Khải Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT 2. Nguyễn Đình Hùng Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT 3.

Trần Đăng Long Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT và các cộng sự khác Đơn vị: Bộ môn Ô tô – Máy Động lực, Khoa KTGT TÓM TẮT Nhằm đáp ứng nhu cầu tự đi lại của người khuyết tật và người già, từ nhiều thập niên qua, các nhà nghiên cứu và doanh nghiệp đã thiết kế - chế tạo nhiều loại xe lăn (lăn tay, lăn điện). Những phương tiện này đã giúp ích nhiều cho người khuyết tật có thể tự mình di chuyển đi làm dễ dàng hay người già có thể tự đi lại thư giãn. Càng ngày các mẫu mã xe lăn càng trở nên phong phú và tiện ích hơn cho người sử dụng. Trước đây xe lăn chỉ đơn thuần là xe thô sơ, chủ yếu dùng sức của đôi tay để di chuyển như: xe lăn tay khung cứng, sau đó là xe khung gấp, rồi xe lăn có thể tự điều chỉnh tư thế nằm ngồi, xe có ghế vệ sinh và tiếp đến là xe có gắn động cơ giúp người sử dụng không phải dùng nhiều đến sức của đôi tay khi di chuyển nữa.

Hiện nay ở Việt Nam đã có nhiều cơ sở sản xuất xe lăn tay phục vụ người khuyết tật và người già. Thị trường Việt Nam cũng nhập khẩu nhiều mẫu xe lăn điện phục vụ người khuyết tật đi lại. Giá thành xe lăn điện nhập ngoại khá cao, không phù hợp điều kiện kinh tế của người khuyết tật và người già. Đề tài nhằm nghiên cứu thiết kế, chế tạo mẫu xe lăn điện phục vụ người khuyết tật và người già đạt các yêu cầu: công nghệ chế tạo đơn giản - có thể thi công trong nước; giá rẻ - phù hợp hoàn cảnh kinh tế của người khuyết tật và người già; khi điện yếu hay hết điện thì xe trở về xe lăn tay - điều này không thể có ở xe điện nhập ngoại.

Mẫu xe lăn điện được thiết kế chế tạo gồm: - Xe lăn tay dạng khung xếp, có lắp dàn trục đỡ bánh chủ động phía trước dẫn động bằng mô men từ motor điện qua bộ truyền xích nhờ cơ cấu gài then hoa. - Lắp motor điện DC 200W, bình accu Lithium 24V và hệ thống điện tương thích để sạc bình khi accu yếu điện (kèm bộ sạc). Khi accu yếu điện và không có địa điểm để sạc bình, người sử dụng xe có thể lăn bằng tay đưa xe đến nơi có điện gần nhất hoặc về nhà để sạc lại. Mẫu xe lăn điện thiết kế có thể chạy với tốc độ tối đa đến 8,5 km/h và khắc phục độ dốc đến 80.

ĐẶT VẦN ĐỀ NGHIÊN CỨU MẪU XE LĂN ĐIỆN I. TÌNH HÌNH VỀ NGƯỜI KHUYẾT TẬT TẠI VIỆT NAM 1. Tình trạng của người khuyết tật Bộ Lao động Thương binh Xã hội cho biết ở Việt Nam có trên 5,3 triệu người tàn tật, chiếm 6,34% dân số [VnMedia. Điều kiện địa lý tự nhiên khắc nghiệt, thiên tai thường xuyên xảy ra vả lại hậu quả mấy chục năm chiến tranh còn kéo dài nên số lượng người tàn tật ở Việt Nam là khá lớn.

Thực ra, Việt Nam chưa có một cuộc điều tra có quy mô toàn quốc đủ lớn và toàn diện về vấn đề người tàn tật để có những số liệu đáng tin cậy: tổng số người tàn tật, độ tuổi, giới tính, nguyên nhân, các dạng tàn tật, những thông tin về đặc tính của người tàn tật, các dạng dịch vụ mà những người tàn tật được thụ hưởng cũng như nhu cầu của người tàn tật… Trong những năm gần đây, với chức năng, nhiệm vụ được giao, nhiều tổ chức, cơ quan Việt Nam đã tiến hành một số cuộc điều tra, khảo sát về vấn đề người khuyết tật. Song các cuộc điều tra này với quy mô hạn hẹp chỉ phục vụ cho mục đích thực hiện các nhiệm vụ hoặc yêu cầu cụ thể của ngành hay địa phương. Đó là chưa kể đến sự thiếu nhất quán, không rõ ràng ngay từ những khái niệm, định nghĩa, cho tới các tiêu chí phân loại, các chỉ tiêu đánh giá, nội dung và phương thức tiến hành của các cuộc khảo sát về vấn đề người tàn tật đã dẫn đến kết quả là nhiều số liệu còn thiếu, hoặc trùng lặp, các kết quả điều tra khảo sát chưa phản ánh đầy đủ về hiện trạng vấn đề người tàn tật Việt Nam, nhiều khi các số liệu khác biệt nhau quá lớn và không thể so sánh với nhau được… Hàng năm Trung tâm PHCN bệnh viện Bạch Mai và Hội từ thiện Latter Day Saint phân phát hơn 2000 xe lăn cho các tỉnh ở hai miền Nam Bắc. Tham khảo các báo cáo kết quả điều tra của Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, các tài liệu khảo sát của Bộ Giáo dục, Bộ Y Tế, các số liệu báo cáo của mạng lưới chỉnh hình phục hồi chức năng, ý kiến của cộng đồng, các tài liệu nghiên cứu, khảo sát của một số tổ chức Quốc tế đã tiến hành tại Việt Nam, thực trạng về người tàn tật trong đó có người khiếm thị ở Việt Nam có thể được phản ánh theo các điểm sau đây: Các dạng dị tật chủ yếu và các nguyên nhân: - Các dạng dị tật: Bảng 1.

Các dạng dị tật Dạng tật Vận động Thị giác Thính giác Ngôn ngữ Trí tuệ Thần kinh Tỉ lệ % 35,46 15,70 9,21 7,92 9,11 13,93 -1- Hình 1. Đồ thị phản ánh tỉ lệ các dạng dị tật - Nguyên nhân của các dạng tật Bảng 1. Bảng kê nguyên nhân của các dạng tật TT Nguyên nhân Tỉ lệ % so với người tàn tật Tỉ lệ % Nam % Nữ % 1 Bệnh tật 35,75 29,75 46,11 2 Bẩm sinh 34,15 30,44 40,61 3 Tai nạn chiến tranh 19,07 27,07 5,14 4 Tai nạn giao thông 5,52 6,75 3,38 5 Nguyên nhân khác 3,55 3,63 3,44 6 Tai nạn lao động 1,98 2,36 1,32 Tổng cộng 100 100 100 Các bảng trên đây cho thấy người tàn tật cơ quan vận động chiếm tỉ lệ cao nhất: 35,46% sau đó là thị giác: 15,70 % và thần kinh chiếm: 13,93%. Nguyên nhân dẫn tới khuyết tật là do: Bẩm sinh chiếm 34,15%, bệnh tật chiếm: 35,75% và tai nạn chiến tranh là 19,07%.

Riêng nguyên nhân tai nạn chiến tranh tỉ lệ nam tàn tật cao hơn nhiều so với tỉ lệ của nữ. Tỉ lệ người đa tật chiếm khá 20,22% trong tổng số nguời khuyết tật. Vấn đề đi lại của người khuyết tật Phần lớn người khuyết tật sống cùng với gia đình chiếm tỉ lệ 95,85 %; số người khuyết tật sống độc thân chiếm 3,31%; tỉ lệ người khuyết tật sống trong các trại bảo trợ xã hội của Nhà nước là 0,22% (tập trung chính ở hai nhóm tuổi từ 15 đến 55 chiếm 54,17% và nhóm tuổi -2- dưới 15 chiếm 28,85%); người khuyết tật sống lang thang là 0,62% [www. Vẫn còn khó khăn khi người khuyết tật đi ra ngoài một mình, vì thành phố thiếu những đường đi và phương tiện giao thông có thiết kế đặc biệt dành cho người khuyết tật.

Việt Nam chưa có cơ sở hạ tầng như: những lối đi trong công viên công cộng, dành cho người khuyết tật và hệ thống giao thông hữu ích để người khuyết tật có thể đi ra ngoài mà không cần nhiều đến sự trợ giúp của người nhà.net về chương trình người khuyết tật tiếp cận các công trình công cộng: phần lớn các công trình đang xây dựng, và sử dụng đều thiếu phương tiện và trang thiết bị cũng như các giải pháp thiết kế tiếp cận sử dụng đối với người khuyết tật, là rào cản hạn chế người khuyết tật hòa nhập cộng đồng, phát huy năng lực, đóng góp cho xã hội. Cả nước có hơn 400 cơ sở sản xuất với trên 20.000 lao động là người khuyết tật, 2.5% trong 5 triệu người khuyết tật được đào tạo; 58,18% số người tàn tật có việc làm, tự nuôi sống mình và tham gia đóng góp cho xã hội bằng nhiều công việc khác nhau [www. Tỉ lệ người khuyết tật có nhu cầu sống chưa có việc làm là 30,43%. Vùng đồng bằng sông Hồng và Đông Nam Bộ là hai vùng có số người khuyêt tật chưa có việc làm chiếm tỉ lệ cao, tương ứng là 41,86% và 35,77%.

Đây là một nhiệm vụ cấp bách cần được đề cập trong các chương trình, dự án hỗ trợ người khuyết tật để giúp họ có điều kiện hòa nhập vào cộng đồng. Một nguyên nhân khác theo quy định tỷ lệ 2% người tàn tật vào làm việc ở các cơ quan hành chính, doanh nghiệp chưa được thực hiện [Nghị định 81/CP, ngày 25/11/2005 của Chính Phủ quy định]. Nhà nước cũng chưa có chế tài, chưa có cơ quan nào được phân công giám sát các cơ quan hành chính, doanh nghiệp thực hiện quy định này. Theo Bộ Lao động Thương binh và Xã hội, cả nước hiện có 5 triệu người khuyết tật, chiếm 6,4% dân số.

Người ở độ tuổi lao động chiếm 69% và 50% số này đang tham gia sản xuất. Luật pháp VN quy định các doanh nghiệp trên lãnh thổ có trách nhiệm nhận lao động là người khuyết tật vào làm việc với tỉ lệ 2% - 3% so với tổng số lao động. Doanh nghiệp nào không thực hiện được thì phải trích một phần lợi nhuận để đóng góp vào quỹ hỗ trợ việc làm cho người khuyết tật. Điều gây trở nhất cho sự hoà nhập cộng đồng của người khuyết tật là việc đi lại.

Hạ tầng giao thông của ta vừa thiếu lại yếu, gây nhiều khó khăn cho việc đi lại cho cả những người lành lặn, với người khuyết tật còn phải chịu khó khăn hơn nhiều. Để sinh sống, người khuyết tật cũng cần di chuyển hàng ngày (đi học, đi làm, đến các cơ quan), đi dạo hay đi thăm bạn bè người thân (đối với cả người già và người khuyết tật). -3- Ở Việt Nam hiện nay các phương tiện giao thông công cộng đều chưa lưu tâm nhiều đến người khuyết tật. Kết cấu xe chưa có các thiết bị phù hợp cho người khuyết tật.

Trong xây dựng cũng vậy, không có đường dốc hay tay vịn dành riêng cho người khuyết tật.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Nghiên Cứu Thiết Kế Và Chế Tạo Xe Lăn Điện Cho Người Khuyết Tật Và Người Già" tập trung vào việc phát triển một giải pháp giao thông tiện lợi và an toàn cho người khuyết tật và người cao tuổi. Nghiên cứu này không chỉ đề cập đến thiết kế và chế tạo xe lăn điện mà còn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện chất lượng cuộc sống cho những đối tượng này. Các điểm chính bao gồm tính năng kỹ thuật, khả năng vận hành, và sự tiện lợi trong việc sử dụng hàng ngày. Độc giả sẽ nhận thấy rằng tài liệu này không chỉ mang lại kiến thức về công nghệ mà còn mở ra cơ hội cho việc áp dụng vào thực tiễn, giúp nâng cao sự độc lập cho người khuyết tật và người già.

Nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về các nghiên cứu liên quan, hãy tham khảo tài liệu tóm tắt luận án tiến sĩ tiếng việt ncs nguyễn khắc tấn, nơi có thể cung cấp thêm thông tin về các nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực kỹ thuật. Ngoài ra, tài liệu luận văn thạc sĩ luật học phòng ngừa các tội phạm về ma túy trên địa bàn tỉnh thái bình có thể mang lại cái nhìn sâu sắc về các vấn đề xã hội liên quan đến sức khỏe cộng đồng. Cuối cùng, bạn cũng có thể tham khảo luận văn đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng để tìm hiểu thêm về các giải pháp cải tiến trong nghiên cứu và ứng dụng công nghệ. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng kiến thức và hiểu biết về các khía cạnh khác nhau của nghiên cứu và ứng dụng trong cuộc sống.