Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong quá trình thực tập lâm sàng tại các cơ sở y tế, sinh viên điều dưỡng thường xuyên thực hiện các thủ thuật xâm lấn, đặc biệt là tiêm truyền – kỹ thuật thường quy trong chăm sóc người bệnh. Điều này đặt sinh viên trước nguy cơ cao bị tổn thương do vật sắc nhọn (VSN) và phơi nhiễm nghề nghiệp với các tác nhân gây bệnh truyền nhiễm nguy hiểm qua đường máu như virus viêm gan B (HBV), virus viêm gan C (HCV) và virus gây suy giảm miễn dịch ở người (HIV).
Theo thống kê của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), trung bình số lần chấn thương do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế dao động từ 0,2 đến 4,7 lần/người/năm. Tại Hoa Kỳ, ước tính có 384.200 ca chấn thương do VSN mỗi năm; tại Tây Ban Nha ghi nhận khoảng 21.000 ca/năm. Tại Việt Nam, khảo sát năm 2010 cho thấy tỷ lệ nhân viên y tế bị chấn thương do VSN là 48% với tần suất trung bình 3,2 ± 4,7 lần/người/năm. Sinh viên y khoa và điều dưỡng, do đặc thù thiếu kinh nghiệm thực tế, áp lực tâm lý và môi trường làm việc khẩn trương, là đối tượng có nguy cơ tổn thương cao nhưng kiến thức phòng ngừa và xử trí sau phơi nhiễm còn nhiều hạn chế.
Tại Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội, sinh viên ngành Điều dưỡng bắt đầu đi thực tập lâm sàng từ năm thứ 2 tại nhiều bệnh viện đối tác. Để giảm thiểu rủi ro lây nhiễm và nâng cao tính an toàn trong thực hành, khóa luận tốt nghiệp ngành Y Đa khoa của tác giả Nguyễn Quang Huy (hướng dẫn bởi TS. Mạc Đăng Tuấn và TS. Vũ Ngọc Hà, bảo vệ năm 2023) đã tiến hành nghiên cứu đề tài: "Thực trạng kiến thức, thái độ về dự phòng và xử trí chấn thương do vật sắc nhọn của sinh viên chuyên ngành điều dưỡng Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2022".
Đề tài đặt ra 2 mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về dự phòng chấn thương do vật sắc nhọn của sinh viên chuyên ngành điều dưỡng Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2022.
- Mô tả thực trạng kiến thức, thái độ về xử trí chấn thương do vật sắc nhọn của sinh viên chuyên ngành điều dưỡng Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội năm 2022.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ sinh viên chuyên ngành Điều dưỡng từ năm thứ 1 đến năm thứ 3 đang theo học tại Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm học 2022-2023.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Sinh viên năm 1-3 đồng ý và tự nguyện tham gia khảo sát.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Sinh viên từ chối tham gia, sinh viên đang bảo lưu hoặc đã thôi học.
- Phạm vi không gian: Trường Đại học Y Dược – Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Phạm vi thời gian: Nghiên cứu thực hiện từ tháng 08/2022 đến tháng 05/2023; giai đoạn thu thập số liệu trực tuyến diễn ra từ tháng 01/2023 đến tháng 02/2023.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Cơ sở lý thuyết và khung hướng dẫn chuyên môn
Khóa luận vận dụng khung lý thuyết kiểm soát mối nguy hại nghề nghiệp trong y tế theo thứ bậc ưu tiên:
- Loại bỏ mối nguy hại: Loại bỏ các mũi tiêm và vật sắc nhọn không cần thiết, sử dụng hệ thống truyền tĩnh mạch không dùng kim (needleless systems) hoặc kim luồn an toàn.
- Kiểm soát kỹ thuật: Sử dụng thùng/hộp kháng thủng đựng vật sắc nhọn, thiết bị tiêm có cơ chế tự thu hồi, tự đóng hoặc làm cùn kim sau sử dụng.
- Kiểm soát hành chính: Xây dựng quy trình thao tác chuẩn, thành lập ban kiểm soát phơi nhiễm, tổ chức đào tạo liên tục về tiêm an toàn.
- Kiểm soát thực hành: Thay đổi hành vi thao tác, không đậy nắp kim bằng hai tay sau tiêm, cô lập vật sắc nhọn ngay tại nơi phát sinh, thu gom hộp an toàn khi đầy 3/4 thể tích.
- Phương tiện phòng hộ cá nhân: Mang găng tay, kính bảo hộ, khẩu trang, áo choàng y tế.
Văn bản chuyên môn cốt lõi được sử dụng để xây dựng công cụ khảo sát là "Hướng dẫn tiêm an toàn trong các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh" ban hành kèm theo Quyết định của Bộ Y tế, cùng các quy định về quản lý chất thải y tế và khuyến cáo phòng ngừa chuẩn từ CDC Hoa Kỳ và WHO.
Phương pháp nghiên cứu
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang (cross-sectional descriptive study).
- Cỡ mẫu và chọn mẫu: Sử dụng phương pháp chọn mẫu thuận tiện lấy toàn bộ sinh viên điều dưỡng năm 1, năm 2 và năm 3 thỏa mãn tiêu chuẩn lựa chọn. Cỡ mẫu thu thập thực tế đạt $n = 146$ sinh viên.
- Công cụ thu thập số liệu: Bảng câu hỏi cấu trúc phát vấn trực tuyến qua Google Forms (được thử nghiệm trước trên 5 sinh viên để chuẩn hóa câu từ).
- Hệ thống biến số:
- Nhóm thông tin chung: Tuổi, giới tính, dân tộc, năm học, kết quả học tập học kỳ 1 năm học 2022-2023, việc đã học môn Kiểm soát nhiễm khuẩn, tiền sử gia đình có bố mẹ làm việc trong ngành y.
- Nhóm kiến thức và thái độ dự phòng VSN: Nguồn thông tin tiếp cận, hiểu biết về virus lây qua đường máu (HIV, HBV, HCV), nhận thức về thao tác nguy cơ cao (đậy nắp kim, bẻ ống thuốc, thu gom rác), quy chuẩn sử dụng hộp an toàn, mức độ quan tâm đối với phòng ngừa chấn thương.
- Nhóm kiến thức và thái độ xử trí sau chấn thương: Biện pháp xử lý vết thương tại chỗ (rửa dưới vòi nước chảy, không nặn bóp), quy trình lập biên bản và báo cáo phơi nhiễm, chỉ định điều trị dự phòng sau phơi nhiễm (PEP).
Tiêu chuẩn đánh giá thang điểm và xử lý số liệu
Thang điểm đánh giá dựa trên tỷ lệ trả lời đúng $\ge 75%$ tổng điểm tối đa:
- Kiến thức dự phòng VSN: Gồm các câu hỏi từ B6 đến B24, điểm tối đa 32 điểm. Đạt khi $\ge 24$ điểm, Chưa đạt khi $< 24$ điểm.
- Kiến thức xử trí VSN: Gồm các câu hỏi từ C1 đến C6, điểm tối đa 7 điểm. Đạt khi $\ge 5$ điểm, Chưa đạt khi $< 5$ điểm.
- Thái độ dự phòng VSN: Gồm các câu D1, D3, D4, D5 theo thang đo Likert 5 mức độ, điểm tối đa 16 điểm. Đạt (thái độ tốt) khi $\ge 12$ điểm (chọn từ mức 3 - Quan tâm trở lên).
- Thái độ xử trí VSN: Gồm các câu D2, D6, D7 theo thang đo Likert 5 mức độ, điểm tối đa 12 điểm. Đạt (thái độ tốt) khi $\ge 9$ điểm.
Số liệu được quản lý, làm sạch và phân tích thống kê bằng phần mềm STATA phiên bản 11.0. Tác giả sử dụng kiểm định Chi-bình phương ($\chi^2$), tỷ suất chênh (OR) với khoảng tin cậy 95% (95% CI) và phân tích hồi quy logistic đa biến (kiểm định Wald) để xác định các yếu tố liên quan độc lập đến kiến thức của sinh viên.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan
Chương 1 hệ thống hóa các định nghĩa chuẩn về phơi nhiễm nghề nghiệp, vật sắc nhọn, chấn thương do VSN, dự phòng sau phơi nhiễm và hộp kháng thủng. Tác giả tổng hợp hơn 20 tác nhân vi sinh vật có khả năng lây truyền qua vết thương do VSN (HBV, HCV, HIV, trực khuẩn lao, giang mai, sốt rét, vi nấm Cryptococcosis, Blastomycosis...).
Phần tổng quan phân tích sâu các tài liệu quốc tế và trong nước:
- Trên thế giới: Tỷ lệ chấn thương do kim tiêm ở sinh viên tại Jordan là 66,66%, tại Đại học Selçuk (Thổ Nhĩ Kỳ) là 84% (thao tác bẻ ống thuốc gây chấn thương chiếm 91%), tại Đại học Y khoa Arak (Iran) ghi nhận 43% sinh viên từng bị thương trong 12 tháng và 40% số ca không được báo cáo. Tỷ lệ báo cáo phơi nhiễm tại các nước dao động thấp (Đức chỉ từ 6,3% - 14,7%).
- Tại Việt Nam: Nghiên cứu tại Bệnh viện Chợ Rẫy ghi nhận điều dưỡng chiếm 35,5% và học viên điều dưỡng chiếm 10,5% tổng số ca chấn thương do VSN. Tại Đại học Y khoa Vinh, 60% sinh viên điều dưỡng từng bị chấn thương do VSN (51,3% do bẻ ống thuốc, 63% xử lý sai vết thương, 59% không báo cáo). Tại Đại học Điều dưỡng Nam Định, 85,3% sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của việc báo cáo nhưng chỉ có 29% nắm đúng quy trình xử lý kim an toàn.
Cuối chương, tác giả giới thiệu quá trình hình thành của Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN (tiền thân là Khoa Y Dược thành lập năm 2010, nâng cấp thành trường năm 2020) và chương trình đào tạo Cử nhân Điều dưỡng hệ 4 năm với quy mô tuyển sinh 50-60 chỉ tiêu/năm.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương 2 trình bày chi tiết quy trình nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 146 sinh viên điều dưỡng từ tháng 08/2022 đến tháng 05/2023. Tác giả mô tả chi tiết sơ đồ thiết kế nghiên cứu, tiêu chuẩn lựa chọn/loại trừ, danh mục biến số và thang điểm phân loại kiến thức - thái độ đạt/không đạt.
Vấn đề đạo đức nghiên cứu được đảm bảo thông qua việc giải thích mục đích nghiên cứu, tôn trọng quyền tự nguyện tham gia và bảo mật thông tin cá nhân. Nhằm hạn chế sai số đo lường và sai số nhập liệu, bộ phiếu điều tra trực tuyến được thiết kế rõ ràng, khảo sát thử trên 5 sinh viên trước khi vận hành chính thức và kiểm soát dữ liệu chặt chẽ qua STATA 11.0.
Chương 3: Kết quả
Chương 3 công bố toàn bộ dữ liệu định lượng thu được từ 146 sinh viên khảo sát:
| Đặc điểm đối tượng nghiên cứu ($n=146$) |
Số lượng ($n$) |
Tỷ lệ (%) |
| Giới tính (Nữ / Nam) |
132 / 14 |
90,4 / 9,6 |
| Dân tộc (Kinh / Dân tộc khác) |
131 / 15 |
89,7 / 10,3 |
| Năm học (Năm 1 / Năm 2 / Năm 3) |
53 / 39 / 54 |
36,3 / 26,7 / 37,0 |
| Tuổi (Dưới 21 tuổi / Từ 21 tuổi trở lên) |
81 / 65 |
55,5 / 44,5 |
| Tuổi trung bình ($\bar{X} \pm SD$) |
20,4 ± 1,1 (nhỏ nhất: 19, lớn nhất: 23) |
|
| Học lực (Trung bình / Khá trở lên) |
36 / 110 |
24,7 / 75,3 |
| Đã học môn Kiểm soát nhiễm khuẩn (Có / Chưa) |
72 / 74 |
49,3 / 50,7 |
| Bố mẹ làm trong ngành Y (Có / Không) |
42 / 104 |
28,8 / 71,2 |
Về thực trạng kiến thức dự phòng chấn thương do VSN:
- Có 80,1% sinh viên từng nghe về vấn đề chấn thương do VSN (nguồn tiếp cận chủ yếu từ giáo viên chiếm 45,9%). Có 89,7% sinh viên nhận thức được tai nạn do VSN có thể phòng ngừa được.
- Tỷ lệ nhận biết đúng các virus lây truyền qua đường máu: HIV (97,9%), HBV (85,6%), HCV (63,0%). 89,0% biết đường lây truyền dễ xảy ra nhất là qua vết thương xuyên da.
- Về thao tác thực hành: 78,7% sinh viên nhận định động tác đóng nắp kim có nguy cơ gây chấn thương cao; 91,8% biết cần tập trung khi tiêm; 91,0% biết cần giữ khu vực làm việc gọn gàng; 83,6% nhận định mang găng tay là biện pháp quan trọng; 95,2% đồng ý phải thông báo trước cho bệnh nhân.
- Về kỹ thuật thao tác chuyên biệt: 71,2% biết phải đặt vật sắc nhọn trong khay khi chuyển giao; 71,2% biết dùng gạc bọc đầu ống thuốc trước khi bẻ; 51,4% cho rằng nên dùng panh đậy nắp kim và chỉ có 29,5% biết kỹ thuật xúc nắp kim bằng một tay; 69,2% cho rằng nên tháo rời kim khỏi bơm tiêm sau sử dụng; 75,3% cho rằng phải đậy nắp kim trước khi bỏ vào hộp đựng.
- Về hộp an toàn: 74,0% nắm đúng mức chứa tối đa là 3/4 thể tích hộp; 51,4% nắm đúng quy định không được tái sử dụng hộp an toàn.
| Chỉ số tổng hợp kiến thức và thái độ ($n=146$) |
Đạt / Tốt ($n, %$) |
Chưa đạt / Chưa tốt ($n, %$) |
| Kiến thức dự phòng chấn thương do VSN |
91 (62,3%) |
55 (37,7%) |
| Thái độ đối với dự phòng chấn thương do VSN |
107 (73,3%) |
39 (26,7%) |
Phân tích hồi quy logistic đa biến về các yếu tố liên quan đến kiến thức dự phòng đạt:
| Yếu tố liên quan |
OR hiệu chỉnh |
Khoảng tin cậy 95% (95% CI) |
Giá trị $p$ |
| Học lực (Khá trở lên so với Trung bình) |
2,42 |
1,02 – 5,70 |
0,04 |
| Học môn Kiểm soát nhiễm khuẩn (Đã học so với Chưa học) |
2,72 |
1,26 – 5,86 |
0,01 |
| Bố mẹ làm việc trong ngành Y (Có so với Không) |
4,32 |
1,68 – 11,09 |
< 0,01 |
| Giới tính (Nam so với Nữ) |
2,47 |
0,61 – 9,96 |
0,20 |
| Năm học (Năm 3 so với Năm 1 + 2) |
3,35 |
0,62 – 18,16 |
0,16 |
| Tuổi (Trên 21 tuổi so với $\le$ 21 tuổi) |
0,98 |
0,20 – 4,76 |
0,98 |
Về thái độ phòng ngừa: Tỷ lệ sinh viên rất quan tâm và khá quan tâm đến chấn thương VSN lần lượt là 56,8% và 21,9%; quan tâm đến phòng ngừa lây nhiễm qua đường máu là 50,7% rất quan tâm và 25,4% khá quan tâm; quan tâm đến quy trình tiêm an toàn là 45,9% rất quan tâm và 28,1% khá quan tâm.
Chương 4: Bàn luận
Chương 4 đối chiếu kết quả khảo sát với các nghiên cứu tương đồng:
- Về kiến thức chung: Tỷ lệ kiến thức dự phòng đạt của sinh viên (62,3%) thấp hơn so với sinh viên Trường Đại học Y khoa Vinh (81%), phản ánh đặc thù chuyên ngành điều dưỡng tại ĐH Y Dược – ĐHQGHN mới thành lập từ năm 2020, kinh nghiệm thực hành lâm sàng của sinh viên còn tích lũy ít hơn.
- Về thao tác sai lệch phổ biến: Vẫn còn 51,4% sinh viên chọn phương án dùng panh đậy nắp kim và 19,1% dùng hai tay đóng nắp kim (thay vì áp dụng kỹ thuật xúc một tay hoặc loại bỏ ngay vào hộp an toàn mà không đậy nắp). Việc 69,2% sinh viên cho rằng cần tháo rời kim khỏi bơm tiêm và 75,3% cho rằng đậy nắp kim trước khi bỏ vào thùng rác là các thói quen sai quy chuẩn tiêm an toàn của Bộ Y tế, làm gia tăng nguy cơ đâm phải kim.
- Về các yếu tố ảnh hưởng: Phân tích đa biến khẳng định vai trò quyết định của việc hoàn thành môn Kiểm soát nhiễm khuẩn ($OR = 2,72$) và học lực ($OR = 2,42$). Sinh viên có gia đình trong ngành y có kiến thức vượt trội ($OR = 4,32$) nhờ sự chia sẻ kinh nghiệm thực tế sớm.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng đạt chuẩn kiến thức về dự phòng chấn thương do vật sắc nhọn là 62,3% ($n=91$), tỷ lệ chưa đạt chiếm 37,7% ($n=55$).
- Tỷ lệ sinh viên có thái độ tốt về phòng ngừa chấn thương do VSN đạt 73,3% ($n=107$), tỷ lệ thái độ chưa tốt là 26,7% ($n=39$).
- Sinh viên nắm rất tốt các kiến thức lý thuyết về tác nhân lây bệnh (HIV 97,9%, HBV 85,6%, HCV 63,0%) và nguyên tắc an toàn chung (tập trung khi tiêm 91,8%, báo trước cho bệnh nhân 95,2%, dung tích tối đa hộp an toàn 74,0%).
- Tồn tại lỗ hổng lớn trong kiến thức thao tác kỹ thuật thực hành: 51,4% hiểu sai về việc dùng panh đậy nắp kim, chỉ 29,5% biết kỹ thuật xúc nắp kim một tay; 69,2% hiểu sai về việc phải tháo rời kim tiêm sau sử dụng.
- Nghiên cứu xác định được 3 yếu tố liên quan độc lập có ý nghĩa thống kê làm tăng khả năng đạt chuẩn kiến thức dự phòng VSN: Học lực từ khá trở lên ($OR = 2,42; p = 0,04$), Đã hoàn thành môn Kiểm soát nhiễm khuẩn ($OR = 2,72; p = 0,01$) và Có bố mẹ công tác trong ngành Y ($OR = 4,32; p < 0,01$).
Giải pháp và khuyến nghị của tác giả
- Đối với cơ sở đào tạo (Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN): Cần đưa học phần Kiểm soát nhiễm khuẩn và chương trình tập huấn tiêm an toàn vào giai đoạn sớm trước khi sinh viên bước vào đợt thực tập lâm sàng đầu tiên; tăng cường rèn luyện kỹ năng xử lý vật sắc nhọn tại phòng thực hành tiền lâm sàng (Skillslab).
- Đối với giảng viên và người hướng dẫn lâm sàng: Tăng cường giám sát, uốn nắn các thao tác có nguy cơ cao (thói quen đậy nắp kim, bẻ ống thuốc, thu gom chất thải sắc nhọn); đóng vai trò mẫu mực trong tuân thủ quy trình kỹ thuật tại bệnh viện.
- Đối với sinh viên điều dưỡng: Nâng cao tính chủ động trong học tập quy trình tiêm an toàn, tuân thủ nghiêm ngặt quy tắc không đậy nắp kim bằng hai tay, luôn mang xe tiêm có gắn sẵn hộp kháng thủng khi làm thủ thuật và thực hiện báo cáo ngay khi xảy ra tai nạn phơi nhiễm.
Đóng góp của đề tài
Đây là một trong những công trình nghiên cứu đầu tiên khảo sát toàn diện về kiến thức, thái độ phòng ngừa và xử trí tổn thương do VSN trên nhóm đối tượng sinh viên chuyên ngành Điều dưỡng của Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN kể từ khi ngành học này được thành lập vào năm 2020. Dữ liệu nghiên cứu cung cấp cơ sở thực tiễn xác đáng cho việc điều chỉnh tiến độ giảng dạy và cải tiến chương trình đào tạo kỹ năng tiền lâm sàng của nhà trường.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận chỉ rõ hai hạn chế phương pháp luận trong quá trình thực hiện:
- Hạn chế về phạm vi và nguồn lực: Nghiên cứu được triển khai với nguồn lực và thời gian có hạn, chỉ mới dừng lại ở việc đánh giá kiến thức và thái độ tự báo cáo trên sinh viên điều dưỡng tại một trường đại học, chưa tiến hành quan sát trực tiếp bảng kiểm thực hành thao tác lâm sàng tại bệnh viện.
- Hạn chế về công cụ thu thập: Việc sử dụng biểu mẫu khảo sát trực tuyến (Google Forms) có thể tiềm ẩn sai số thông tin do một số sinh viên thiếu kiên nhẫn khi điền phiếu, dẫn đến hiện tượng trả lời qua loa làm ảnh hưởng đến độ chính xác tuyệt đối của một số câu hỏi phát vấn.
Hướng nghiên cứu tiếp theo được đề xuất là mở rộng quy mô khảo sát trên toàn bộ khối ngành khoa học sức khỏe, kết hợp phương pháp quan sát trực tiếp thao tác thực hành tiêm truyền tại giường bệnh và thực hiện các nghiên cứu can thiệp giáo dục sức khỏe nghề nghiệp.
Giá trị tham khảo
Công trình là tài liệu tham khảo chuyên môn hữu ích cho:
- Sinh viên Điều dưỡng và Y đa khoa: Giúp tự rà soát lỗ hổng kiến thức thực hành, nhận diện các thao tác nguy cơ cao (đậy nắp kim, bẻ ống thuốc thủy tinh, tái sử dụng hộp đựng kim) và nắm vững quy trình xử trí phơi nhiễm chuẩn y khoa.
- Cán bộ quản lý đào tạo và Giảng viên Skillslab: Cung cấp số liệu thực tế để thiết kế lại thời lượng giảng dạy môn Kiểm soát nhiễm khuẩn, ưu tiên tổ chức đào tạo kỹ năng tiêm an toàn ngay từ năm thứ nhất và năm thứ hai.
- Khoa Kiểm soát nhiễm khuẩn tại các Bệnh viện thực hành: Làm tài liệu tham khảo để xây dựng các chương trình định hướng thực hành lâm sàng an toàn, quy trình tiếp nhận và giám sát điều trị dự phòng sau phơi nhiễm cho học viên, sinh viên thực tập.
Câu hỏi thường gặp
1. Tỷ lệ sinh viên điều dưỡng đạt chuẩn kiến thức về dự phòng chấn thương do VSN trong nghiên cứu là bao nhiêu?
Tỷ lệ sinh viên có kiến thức dự phòng đạt chuẩn ($\ge 24/32$ điểm) là 62,3% ($n=91$), trong khi 37,7% ($n=55$) sinh viên chưa đạt chuẩn.
2. Thao tác thực hành sai quy chuẩn nào vẫn còn phổ biến trong nhận thức của sinh viên?
Có 51,4% sinh viên cho rằng nên dùng panh đậy nắp kim; chỉ 29,5% biết kỹ thuật xúc nắp kim một tay; 69,2% cho rằng nên tháo rời kim ra khỏi bơm tiêm sau sử dụng và 75,3% cho rằng cần đậy nắp kim trước khi bỏ vào hộp đựng vật sắc nhọn.
3. Môn học nào trong chương trình đào tạo có ảnh hưởng lớn nhất đến kiến thức phòng ngừa VSN của sinh viên?
Môn Kiểm soát nhiễm khuẩn. Kết quả phân tích hồi quy logistic đa biến cho thấy sinh viên đã hoàn thành môn học này có khả năng đạt chuẩn kiến thức phòng ngừa chấn thương cao gấp 2,72 lần so với nhóm chưa được học ($OR = 2,72; 95% \text{ CI: } 1,26 - 5,86; p = 0,01$).
4. Quy định chuẩn về mức chứa tối đa của hộp an toàn đựng vật sắc nhọn được bao nhiêu sinh viên nắm đúng?
Có 74,0% sinh viên ($n=108$) trả lời đúng quy định hộp an toàn chỉ được chứa tối đa đến 3/4 thể tích (vạch báo hiệu không được đựng quá).
5. Tỷ lệ sinh viên có thái độ tích cực/tốt đối với việc phòng ngừa chấn thương do VSN là bao nhiêu?
Có 73,3% sinh viên ($n=107$) được đánh giá là có thái độ tốt (đạt điểm $\ge 12/16$), thể hiện sự quan tâm cao đối với công tác phòng ngừa tai nạn nghề nghiệp và tiêm an toàn.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Quang Huy đã mô tả chi tiết thực trạng kiến thức và thái độ về dự phòng chấn thương do vật sắc nhọn trên 146 sinh viên điều dưỡng Trường Đại học Y Dược – ĐHQGHN năm 2022. Mặc dù 73,3% sinh viên thể hiện thái độ phòng ngừa tích cực và nắm vững lý thuyết bệnh truyền nhiễm, tỷ lệ đạt chuẩn kiến thức dự phòng chung mới đạt 62,3% với nhiều ngộ nhận trong kỹ thuật thao tác an toàn. Nghiên cứu khẳng định môn Kiểm soát nhiễm khuẩn, kết quả học lực và môi trường gia đình ngành y là các yếu tố tác động mạnh mẽ đến nhận thức của sinh viên, qua đó đề xuất nhà trường cần ưu tiên đào tạo thực hành tiêm an toàn sớm trước giai đoạn đi viện.