Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Khái niệm vật sắc nhọn và một số vấn đề liên quan đến tổn thương do vật sắc nhọn gây ra. Khái niệm vật sắc nhọn Theo thông tư quy định về quản lý chất thải ý tế chất thải sắc nhọn là chất thải lây nhiễm có thể gây ra các vết cắt hoặc xuyên thủng bao gồm: kim tiêm; kim lấy thuốc; bơm liền kim tiêm; đầu kim của dây truyền; kim chọc dò; kim khâu da; kim châm cứu; lưỡi dao mổ; đinh, vít, cưa dùng trong phẫu thuật và các vật sắc nhọn khác [3]. Hậu quả tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn gây ra.
Tổn thương do vật sắc nhọn thường gây ra những hậu quả nghiêm trọng cả về thể chất và tinh thần. Về mặt thể chất, tình trạng phơi nhiễm với HIV, viêm gan Virus B (HBV) và viêm gan Virus C (HCV) là những hậu quả nghiêm trọng mà người nhân viên y tế nói chung, người điều dưỡng nói riêng gặp phải do những tổn thương do vật sắc nhọn gây ra. Nguy cơ lây nhiễm HBV từ những tổn thương do vật sắc nhọn gây ra 6% đến 30%, nguy cơ lây nhiễm HCV chiếm khoảng 3% đến 10%, nguy cơ lây nhiễm HIV khoảng 0,4% [42]. Theo WHO, mỗi năm trên thế giới có đến 66000 ca lây nhiễm HBV, 16000 ca lây nhiễm HCV và 1000 ca lây nhiễm HIV trong nhân viên y tế, nguyên nhân tổn thương do vật sắc nhọn gây ra [42].
Tại các nước đang phát triển, khoảng 40% - 65% số trường hợp lây nhiễm HBV và HCV ở NVYT là do phơi nhiễm nghề nghiệp bởi tổn thương thấu da. Tại các nước phát triển thì ngược lại, tỷ lệ quy thuộc đối với HCV chỉ khoảng 8 – 27% và dưới 10% đối với HBV, phần lớn là nhờ áp dụng tiêm phòng và sử dụng phương tiện bảo vệ cá nhân an toàn. Tỷ lệ quy thuộc của HIV giữa các vùng vào khoảng 0,5 – 11%. WHO cũng đã ước tính số trường hợp lây nhiễm virus HCV, HBV và HIV trong nhân viên y tế được quy cho TTNN do VSN tại 14 vùng địa lý trên thế giới.
Theo đó Việt Nam nằm trong nhóm nước có tỷ lệ lây nhiễm virus HBV, HCV cao nhất, cụ thể có khoảng 4700 người nhiễn HCV, 16000 người nhiễm HBV [12]. Nguy cơ phơi nhiễm với các tác nhân gây bệnh qua đường máu phụ thuộc vào tính chất, tần suất của tổn thương và tỷ lệ mang mầm bệnh của nhóm người bệnh mà 5 nhân viên y tế phải tiếp xúc. Việt Nam là nước có tỷ lệ dân số nhiễm virus viêm gan B cao, theo ước tính của WHO có khoảng 8,6 triệu người, tỷ lệ nhiễm ở nữ giới vào khoảng 8,8%, ở nam giới là 12,3% [41]. Đây là yếu tố làm gia tăng nguy cơ lây lan virus viêm gan B ở NVYT khi bị TTNN do VSN gây nên.
TTNN do VSN không những làm lây truyền các tác nhân gây bệnh nguy hiểm cho nhân viên y tế mà còn gây ra các vết thương tại chỗ như rách da, chảy máu, gây đau đớn… làm ảnh hưởng đến tâm lý và chất lượng công việc của nhân viên y tế. Xử trí khi bị tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn Tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn có thể lây truyền cho nhân viên y tế nhiều tác nhân gây bệnh nguy hiểm như viêm gan B, C và HIV…Việc xử trí vết thương do VSN gây ra không tốt hoặc không đúng sẽ làm tăng nguy cơ lây nhiễm các tác nhân gây bệnh này cho nhân viên y tế. Năm 2012, Bộ Y tế đã ban hành tài liệu hướng dẫn tiêm an toàn và cách xử trí khi bị TTNN do VSN gây ra. Các bước xử trí bao gồm: - Rửa ngay vùng da bị tổn thương bằng xà phòng dưới vòi nước chảy.
- Để máu vết thương tự chảy, không nặn bóp vết thương…. - Báo cáo phơi nhiễm: nhân viên y tế cần báo cáo cho người có trách nhiệm tại nơi làm việc để kịp thời xử trí và có các biện pháp dự phòng thích hợp. - Đánh giá nguy cơ: bao gồm việc đánh giá đặc điểm, tính chất tổn thương và nguồn phơi nhiễm [2]. Vào 1985 do sự bùng phát của dịch HIV, Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) bắt đầu ứng dụng chiến dịch phòng ngừa gọi là Phòng ngừa phổ thông hay phổ quát (Univeral precautions), nhằm phòng ngừa lây truyền virus qua đường máu.
Đến năm 1995, CDC đã đưa ra biện pháp Phòng ngừa chuẩn (Standard precautions) mở rộng khuyến cáo phòng ngừa không chỉ qua đường máu mà qua cả các chất tiết từ cơ thể, kiểm soát lây nhiễm chéo qua máu, dịch cơ thể, dịch tiết và chất tiết trừ mồ hôi cho dù chúng có nhìn thấy có chứa máu hay không [22]. Tại Việt Nam, Bộ Y tế và các bệnh viện trên cả nước cũng đã ban hành các văn bản, quy định nhằm phòng ngừa và kiểm soát nhiễm khuẩn cũng như phòng tránh tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn như: 6 - Quy chế quản lý chất thải y tế, ban hành kèm theo Quyết định 43/2007/QĐ– BYT của Bộ Y tế ngày 03/12/2007. - Thông tư số 18/2009/TT–BYT của Bộ Y tế Hướng dẫn tổ chức thực hiện công tác kiểm soát nhiễm khuẩn trong các cơ sở khám, chữa bệnh ngày 14/10/2009. - Thông tư 09/2005/TT-BYT của Bộ Y tế Hướng dẫn điều kiện xác định người bị phơi nhiễm HIV hoặc bị nhiễm HIV do tai nạn rủi ro nghề nghiệp ban hành ngày 28/03/2005.
Năm 2002, WHO đã đưa ra các khuyến cáo chung nhằm phòng ngừa tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn gây ra. Các biện pháp bao gồm: - Giảm thiểu mũi tiêm không cần thiết, thực hiện tiêm an toàn. Việc giảm số lượng mũi tiêm đồng thời giảm đi cơ hội bị tổn thương do kim tiêm đâm bởi vì kim tiêm là một trong những nguyên nhân chính gây ra tổn thương cho NVYT. - Quản lý tốt các chất thải là vật sắc nhọn bao gồm các biện pháp phân loại, thu gom chất thải, vứt bỏ đúng vị trí ngay sau khi sử dụng, sử dụng hộp an toàn để đựng vật sắc nhọn sau khi sử dụng, tránh vương vãi ra nơi làm việc và cộng đồng.
- Tiêm phòng và điều trị chống phơi nhiễm cho nhân viên y tế để ngăn chặn bệnh lây lan. - Sử dụng các thiết bị y tế có thiết kế an toàn nhằm hạn chế xảy ra tổn thương cho NVYT. - Cung cấp đầy đủ các thiết bị bảo hộ cá nhân như găng tay, kính, mask. - Đào tạo, tập huấn và tuyên truyền cho nhân viên y tế về việc phòng ngừa tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn, xây dựng hệ thống báo cáo giám sát khi xảy ra tổn thương [42].
Thực trạng tổn thương nghề nghiệp do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế và ở điều dưỡng 1. Thực trạng tổn thương do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế 1. Thực trạng trên thế giới Theo thống kê, trên toàn thế giới có khoảng 35 triệu nhân viên y tế, chiếm khoảng 12% dân số người lao động. Nhân viên y tế bao gồm điều dưỡng, bác sĩ, kỹ thuật viên.
những người này thường xuyên có nguy cơ bị tổn thương do vật sắc 7 nhọn gây ra trong thời gian họ thực hiện nhiệm vụ. Những thủ thuật có thể gây tổn thương do vật sắc nhọn được thực hiện thường xuyên nhất bao gồm, tiêm bắp, tiêm dưới da (22%), lấy máu xét nghiệm hoặc tiêm tĩnh mạch (20%), đậy nắp kim tiêm sau khi sử dụng (30%). Theo nghiên cứu của WHO tiến hành năm 2002 tại 14 vùng địa lý trên thế giới trung bình mỗi nhân viên y tế bị TTNN do VSN với tần suất từ 0,2 đến 4,7 lần/năm. Cũng theo nghiên cứu này, tần suất trung bình của nhân viên y tế bị tổn thương do vật sắc nhọn có sự khác nhau giữa các vùng lãnh thổ.
Các nước phát triển ở khu vực châu Mỹ, châu Âu, châu Đại dương có tỷ lệ hàng năm của nhân viên y tế bị tổn thương do vật sắc nhọn là thấp nhất. Cụ thể, tần suất trung bình của nhân viên y tế bị tổn thương do vật sắc nhọn ở các nước thuộc Châu Mỹ như Mỹ, Canada là 0,18 lần/ người/ năm. Ở các nước thuộc châu Âu như Đan Mạch, Pháp, Tây Ban Nha là 0,64 lần/người/năm. Ở các nước như Úc, New Zealand là 0,74 lần/người/ năm.
Trong khi, tần suất ở các nước như Pakistan, Ai Cập là 4,68 lần/người/năm [42]. Theo báo cáo của Trung tâm phòng ngừa và kiểm soát bệnh tật Hoa Kỳ (CDC) có khoảng 385000 ca tổn thương do vật sắc nhọn ở nhân viên y tế làm việc tại các bệnh viện ở Mỹ hàng năm [24]. Theo một nghiên cứu khác tại các bệnh viện ở Massachusets, Hoa Kỳ, trong thời gian từ năm 2002 đến năm 2012, có 34358 ca tổn thương do vật sắc nhọn gây ra, trung bình là 3124 ca/năm. Trong đó có đến 38% ca tổn thương do vật sắc nhọn gây ra ở người điều dưỡng, 35% gặp ở bác sĩ [37].
Theo một nghiên cứu tổng quan ở Châu âu năm 2014, tỷ lệ nhân viên y tế bị tổn thương do vật sắc nhọn gây ra vào khoảng 1,4 đến 9,5người / 100 nhân viên y tế/ năm. Trong đó, tỷ lệ NVYT ở Úc có tỷ lệ cao nhất (9,5 người/100 NVYT /năm), ở Pháp là thấp nhất (1,4 người/100 nhân viên y tế/năm). Trong đó, tỷ NVYT là ĐD gặp tổn thương do vật sắc nhọn (56,8%) gấp đôi tỷ lệ bác sỹ gặp tổn thương do vật sắc nhọn (28,8%) [29]. Theo một nghiên cứu năm 2012 trên 6367 NVYT làm việc tại các bệnh viện ở Thụy Sĩ chỉ có 9,7% số NVYT có ít nhất một tổn thương do vật sắc nhọn gây ra trong vòng 12 tháng gần nhất.
Trong đó, ĐD và bác sĩ là nhóm NVYT thường gặp tổn thương do vật sắc nhọn nhất, cụ thể ĐD chiếm 49,2%, bác sĩ 8 chiếm 36,9%, còn lại là các nhóm NVYT khác [46]. Một nghiên cứu khác ở Bosnia & Herzegovina năm 2013, cho thấy có đến 66% cán bộ y tế bị tổn thương do vật sắc nhọn gây ra trong suốt thời gian làm việc của họ, 30% trong số họ bị tổn thương do vật sắc nhọn trong 1 năm gần đây nhất. Trong nghiên cứu đó, 53,4% cán bộ y tế bị tổn thương do vật sắc nhọn là điều dưỡng, 32,8% là bác sĩ [20]. Một nghiên cứu mô tả cắt ngang tiến hành từ năm 2009 đến năm 2010 tại Bồ Đào Nha với 363 nhân viên y tế bao gồm bác sỹ, điều dưỡng, kỹ thuật viên…tham gia nghiên cứu.
Kết quả có 64,5% số người tham gia đã từng bị TTNN do VSN trong vòng 5 năm trước đó, trong số các NVYT bị tổn thương ĐD chiếm tới 74,8%, 13,2% là bác sỹ và 28% là các nhân viên khác [36].