ĐẶT VẤN ĐỀ Vi rút gây u nhú ờ người (Human papillomavirus - HPV) là một trong những tác nhân gây các bệnh lây truyền qua đường tình dục và được xem là nguyên nhân hàng đầu gây nên UTCTC. HPV có nhiều tuýp khác nhau, một số tuýp được coi là “nguy cơ thấp”, có thể gây ra mụn cóc ở BPSD và hậu môn, trong khi đó những tuýp được coi là “nguy cơ cao”, cỏ thể gây ra tổn thương tiền UTCTC, ung thư hậu môn và các BPSD khác [31]. Có ít nhất 50% PN nhiễm HPV một lần trong đời [4], có thể không xuất hiện triệu chứng hoặc gây ra viêm nhiễm ở BPSD và tự biến mất. Tuy nhiên, viêm nhiễm kéo dài với các loại vi rút HPV nguy cơ cao có thê dân đên các bât thường tiên UTCTC, gây nên các tổn thương trong biểu mô cổ tử cung độ thấp, và từ đó dẫn tới UTCTC [29, 30], Theo Tổ chức y tể thế giới WHO (TCYTTG), năm 2013, UTCTC là bệnh ung thư phổ biến thứ hai ở PN, với ước tính khoảng 530 000 trường hợp mới mỗi năm, hơn 270.000 PN chết vì UTCTC; hơn 85% các ca tử vong là ờ các nước có thu nhập thấp và trung bình [27].
Tại Việt Nam, một nghiên cứu tại bệnh viện Ung Bướu, thành phô Cân Thơ cho thấy, tỷ lệ nhiễm HPV trên bệnh nhân UTCTC là 92,9%, có 9 tuýp HPV nhiễm, các tuýp đều là nhóm nguy cơ cao [26]. Điều đó cho thấy nhiễm vi rút HPV là điều rất nguy hiểm đối với PN. Nghiên cứu của Vũ Thị Hoàng Lan và Bùi Diệu năm 201 Iđược thực hiện trên tổng số 4500 PN ở 5 thành phố lớn tại Việt Nam cho thấy, tỷ lệ nhiễm HPV dao động từ 6,1% lên 10,2%, trong đó Cần Thơ có tỳ lệ nhiễm cao nhất. Các loại HPV phổ biến nhất là HPV16, 18.
Hau hết các trường hợp dương tính đã bị nhiễm HPV nguy cơ cao, đặc biệt là tại Hà Nội và Cần Thơ, hơn 90% trường hợp HPV dương tính là đã nhiễm tuýp nguy cơ cao. Tại Cần Thơ hơn 60% PN bị nhiễm với nhiều tuýp HPV [28]. Một nghiên cứu tại TP.HCM năm 2011, tỷ lệ PN có kiến thức và thái độ đúng về tiêm phòng HPV là 37,38% [9], điều đó cho thay kiến thức, thái độ, thực hành về dự phòng lây nhiễm HPV còn thâp. Đứng trước thực trạng trên, việc nghiên cứu kiến thức, 2 thái độ, thực hành của PN về phòng lẩy nhiễm HPV có ý nghĩa quan trọng trong việc đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp nhằm kiểm soát tỷ lệ lây nhiễm HPV.
Nâng cao kiến thức và thực hành phòng lây nhiễm HPV và UTCTC đúng cho đối tượng có nguy cơ sẽ là biện pháp can thiệp cộng đồng có hiệu quả lâu dài nhằm giảm gánh nặng bệnh tật do HPV mang lại. An Lạc và Ben Tam là 2 xẵ thuộc thị xã Chí Linh, tỉnh Hải Dương, Việt Nam, có một vị trí địa lý đặc biệt, nằm trong vùng giao thông thủy, bộ từ biên giới phía Bắc về Hà Nội và là những vùng miền đang trong quá trình chuyên dịch cơ câu kinh tê theo hướng công nghiệp hóa. Trong những năm trở lại đây, vấn đề về chăm sóc sức khỏe sinh sản (CSSKSS) đã được ngành y te và các ban ngành đoàn the khác quan tâm hơn, tuy nhiên các chương trình mới chỉ chú trọng tới các nội dung như CSSKSS vị thành niên, kế hoạch hóa gia đình hay khám phụ khoa định kỳ cho PN trong độ tuổi sinh sản, chưa có hoạt động nào liên quan tới dự phòng nhiễm HPV cũng như chưa có nghiên cứu nào về kiến thức, thái độ, thực hành phòng lây nhiễm HPV và UTCTC tại Chí Linh, Hải Dương. Câu hỏi được đặt ra: “Kiến thức, thải độ và thực hành phòng lây nhiễm HPV và UTCTC cùa PN đã có gia đình tại thị xã Chí Linh như thể nào?”.
Để trả lời cho câu hỏi trên, tôi thực hiện nghiên cứu “Mô tả kiến thức, thủi độ, thực hành về phòng lây nhiễm HPV và UTCTC của PN đã có gia đình tuồi từ 15-49 tại 2 xã An Lạc và Ben Tắm, thị xã Chỉ Lình, Hải Dương”. Từ kết quả nghiên cứu sẽ xây dựng Cơ sở để đưa ra các giải pháp can thiệp phù hợp nhằm giảm tỷ lệ lây nhiễm HPV và UTCTC. 3 MỤC TIÊU NGHIÊN cứu 1. Mô tả kiến thức, thái độ, thực hành về phòng lây nhiễm HPV và UTCTC của PN đà có gia đình tuổi từ 15-49 tại 2 xà An Lạc và Ben Tam, thị xã Chí Linh, Hải Dương năm 2014.
Xác định một số yếu to liên quan đến thực hành về phòng lây nhiễm HPV và UTCTC của PN đã có gia đình tuổi từ 15-49 tại 2 xã An Lạc và Bến Tắm ờ thị xã Chí Linh, Hải Dương năm 2014. 4 TỎNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tổng quan về HP V ỉ. Khái niệm Human papilloma virus (HPV) là một loại vi rút gây u nhú (u, mụn cóc,.
HPV là nguyên nhân gây ra các bệnh lây truyền qua đường tình dục phổ biến nhất trên thế giới hiện nay. 75% những người đã từng có QHTD có ít nhất một lần nhiễm HPV trong cuộc đời của họ. Cả nam giới và PN đều có thể nhiễm HPV và đều có thể phát triển thành mục sinh dục, ung thư từ việc nhiễm HPV đó, mặc dù chỉ có thê phát triên thành UTCTC ở PN [25], 1. Phân loại HPV là một trong những vi rút có nhiều tuýp nhất.
Người ta đã biết đen gần 120 tuýp. Mỗi tuýp có một sự thích nghi cao với một loại biểu mô nhất định. Ví dụ như tuýp 1, 2, 3, 10, 27. thường gây bệnh ở da, còn tuýp 16, 11, 18.
lại chủ yếu tẩn công cơ quan sinh dục người. Người ta xác định có đến hom 38 tuýp HPV xâm nhiễm tế bào biểu mô vảy ở vùng cơ quan sinh dục người. Trong đó, phổ biến nhất là các tuýp 6, 11, 16, 18, 42, 43, 44, 31, 33, 35, 45, 51, 52, 56 [12]. Tùy thuộc vào khả năng dẫn đến ung thư (tạo khối u ác tính) người ta chia các tuýp HPV làm 2 nhóm: Nhóm “nguy CO’ thấp” (low-risk): những tuýp HPV thuộc nhóm này chỉ gây những mụn cóc hoặc khối u lành tính.
Các tuýp HPV trong nhóm nguy cơ tháp thường gặp là: LI : 6,42,43,81 L2 : 11, 61,70,71 Nhóm “nguy CO’ cao” (high-risk): bao gồm những tuýp có khả năng gây ra rối loạn, hình thành các khối u ác tính. Các tuýp HPVtrong nhóm nguy cơ cao là: Hl: 16,18, 31,45 H2 : 33,35,39, 52 H3 : 51,56, 66, 68 H4 : 53, 58, 59, 82 5 Mặc dù có sự khác biệt về tần suất nhiễm các tuýp HPV giữa các vùng địa lý nhưng tuýp 16,18 thường gây ung thư ở hầu hết các nơi trên thế giới [ 17, 20] 1. Đường láy truyền HPV Các vi rút HPV có thể lây truyền cho bất cứ ai đã từng QHTD. HPV không lây truyền qua tinh dịch hay các dịch tiết của cơ thê mà lây truyền qua tiếp xúc da với da, tièp xúc với dương vật, tử cung, âm đạo, hậu môn của những người bị nhiễm.
Hôn hay chạm vào BPSD của đối tác bằng miệng cũng có thề truyền vi rút HPV [31] 4- QHTD - Giao hợp. - Sinh dục - sinh dục, tay - sinh dục, miệng - sinh dục. - Dùng BCS có thể giảm nguy cơ nhưng không bảo vệ hoàn toàn vì BCS không thể che hết toàn bộ bề mặt da xung quang BPSD và hậu môn, do đó không bảo vệ hoàn toàn khỏi HPV. 4- Đường không tình dục - Mẹ sang con.
- Vật dụng (đồ lót, găng tay, dung cụ khám,. Đa số người nhiễm bệnh đều không hay biết và vô tình truyền bệnh cho người khác [21]. HPV không liên quan đến HIV (vi rút gây suy giảm miễn dịch của con người mà có thể gây ra bệnh AIDS). Tuy nhiên, với những người có HIV đã làm giảm hệ thống miễn dịch và có khả năng bị nhiễm vi trùng khác, bao gồm cả một hay nhiêu tuýp HPV [31].
Hậu quả lây nhiễm HPV Hậu quả mà đại đa số các tuýp HPV lành tính thuộc nhóm nguy cơ thấp gây ra các bệnh như mụn cóc bàn tay, bàn chân hoặc một số loại gây ra mụn cóc sinh dục như HPV 6 và HPV 11 với những biểu hiện như những mụn nhỏ như da gà mọc ở xung quanh cổ tử cung, âm đạo, hậu môn hay dương vật, không gây đau đớn có thể có kích thước khác nhau và nó xuất hiện sau vài tuần hoặc vài tháng có QHTD với người bệnh. 6 Tuy nhiên có một số tuýp thuộc nhóm nguy cơ cao gây UTCTC ở PN, đặc biệt ở độ tuổi ngoài 30. Nó cũng là nguyên nhân gây Ung thư hậu môn, ung thư hầu họng. Đối với nam giới thì HPV cũng là nguyên nhân gây ung thư dương vật [4], 1.
Điểu trị nhiêm HPV Việc điều trị các loại mụn cóc này tùy thuộc vào vị trí và kích thước của chúng: có the dùng laser hoặt tiểu phẫu để loại bỏ và đôi khi nó cũng có the tự biển mât mà không cần điều trị. Không thể điều trị triệt để hoàn toàn việc nhiễm HPV hiện nay, chúng hoàn toàn có thể tái phát lại dù đã được điều trị khỏi trước đó. Giai đoạn xuất hiện mụn cóc là giai đoạn mà khả năng lây lan nhanh và dễ dàng nhất [6], 1. Tiêm phòng vắc xin HPV Hiện nay đã có vắc xin phòng ngừa lây nhiễm HPV, được chỉ định cho trẻ em gái và PN trong độ tuổi 9 đến 26 tuổi được sản xuất để chống lại 4 tuýp là 6, 11, 16 và 18, trong đó có hai tuýp là 6 và 11 nguyên nhân chính gây ra các bệnh sùi mào gà sinh dục và hai tuýp 16 và 18 nguyên nhân chính chiếm 70% các trường hợp UTCTC.
Liều tiêm là 3 mũi vào tháng 0, tháng 2 và tháng 6 [4, 15]. Văc xin HPV được khuyên cáo nên tiêm cho thiêu nữ trẻ hay trẻ gái vị thành niên chưa có QHTD, nhàm chuẩn bị đầy đủ miễn dịch, tránh tác động của HPV một khi có nhiễm HPV qua đường tình dục. Đối với PN lớn hơn, nếu xét nghiệm HPV âm tính, cũng CÓ thề sử dụng; tuy nhiên, trong trường hợp người đó đã từng nhiễm HPV thậm chí đã từng có tổn thương tại cổ tử cung do HPV, hiệu quả của vắc xin sẽ bị hạn chế.