Tổng quan luận án
Ung thư cổ tử cung là một trong những bệnh ung thư phụ khoa phổ biến hàng đầu ở phụ nữ trên thế giới và tại Việt Nam. Theo các số liệu dịch tễ học được tổng hợp trong luận án, virus gây u nhú ở người (Human Papillomavirus - HPV) là nguyên nhân căn nguyên chính liên quan đến hơn 99% các trường hợp ung thư cổ tử cung, trong đó các tuýp HPV nguy cơ cao chiếm trên 90% và hai tuýp phổ biến nhất là HPV16 và HPV18 chịu trách nhiệm cho hơn 70% tổng số ca bệnh. Tại Việt Nam, tỷ lệ mắc ung thư cổ tử cung có xu hướng gia tăng với khoảng 664 trường hợp mắc mới và trên 2.000 ca tử vong mỗi năm, tỷ lệ mắc mới ước tính là 13,6/100.000 phụ nữ. Mặc dù vai trò sinh ung của các protein E6, E7 và vỏ L1 của HPV đã được khẳng định trên lý thuyết, nhưng dữ liệu nghiên cứu sâu về đặc điểm biến dị di truyền, phân bố các dòng (lineage) và dòng con (sublineage) của HPV16 và HPV18 cùng mối liên quan của chúng với các biểu hiện lâm sàng, cận lâm sàng tại Việt Nam vẫn còn rất hạn chế.
Nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này, tác giả Hoàng Xuân Sơn đã thực hiện đề tài luận án tiến sĩ y học với tên gọi: "Xác định vai trò của HPV và các biến thể trong ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương". Luận án xác định hai mục tiêu nghiên cứu cụ thể:
- Mô tả đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương.
- Xác định các tuýp HPV và các biến thể trong ung thư cổ tử cung.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án:
- Đối tượng nghiên cứu: Các bệnh nhân được chẩn đoán ung thư cổ tử cung và điều trị tại Khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ sản Trung ương, có kết quả mô bệnh học xác định tại Khoa Giải phẫu bệnh của bệnh viện.
- Tiêu chuẩn lựa chọn: Bệnh nhân ung thư cổ tử cung có kết quả xét nghiệm dương tính với HPV16, HPV18 hoặc ít nhất một trong 12 tuýp HPV nguy cơ cao bằng hệ thống Cobas 4800 (Roche) và còn lưu trữ lọ mẫu bệnh phẩm đạt tiêu chuẩn kỹ thuật.
- Tiêu chuẩn loại trừ: Các bệnh nhân không làm xét nghiệm HPV hoặc xét nghiệm không bằng hệ thống Cobas 4800; bệnh nhân có thông tin thu thập không đầy đủ hoặc mẫu bệnh phẩm không đảm bảo chất lượng cho các xét nghiệm sinh học phân tử tiếp theo.
- Phạm vi không gian và thời gian: Nghiên cứu thu thập số liệu và mẫu bệnh phẩm trong giai đoạn từ ngày 01 tháng 01 năm 2017 đến ngày 31 tháng 12 năm 2020 tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương, có sự phối hợp chuyên môn với Bệnh viện Bệnh Nhiệt đới Trung ương trong quá trình xử lý và phân tích số liệu xét nghiệm gen.
Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án
Luận án đã hệ thống hóa các công trình nghiên cứu về dịch tễ học nhiễm HPV và ung thư cổ tử cung trên thế giới và tại Việt Nam:
- Nghiên cứu quốc tế: Công trình của Munoz và cộng sự (2003) trên 9 quốc gia đã xác định 12 tuýp HPV nguy cơ cao chính gây ung thư cổ tử cung (16, 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59) và nhóm nguy cơ thấp (6, 11, 40, 42, 43, 44, 45, 53, 54, 55, 66). Fxavier Bosch (1997) ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV chung là 10,41% và tăng lên 20% ở nhóm phụ nữ mắc bệnh lây truyền qua đường tình dục. Benevolo và cộng sự (2008) tại Ý báo cáo tỷ lệ nhiễm 38,7%; tại Mỹ tỷ lệ nhiễm ở phụ nữ 14-59 tuổi là 26,8%. Koutsky và cộng sự (theo dõi 241 phụ nữ) chỉ ra nguy cơ tiến triển thành CIN2/CIN3 trong 2 năm ở nhóm HPV dương tính là 28,0% so với 3,0% ở nhóm HPV âm tính. Mahboobeh Safaeian và cộng sự (2009) theo dõi 3.488 phụ nữ có tổn thương ASCUS, chứng minh nhóm HPV âm tính chỉ có 1,4% tiến triển thành CIN3+ sau 2 năm.
- Nghiên cứu tại Việt Nam: Nghiên cứu của Trần Thị Lợi và cộng sự (2010) tại Thành phố Hồ Chí Minh ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 10,84% (nguy cơ cao 9,1%, nguy cơ thấp 1,74%). Vũ Thị Nhung (2007) ghi nhận tỷ lệ nhiễm tại Bệnh viện Hùng Vương là 76% (chủ yếu là tuýp 11 và 16) và trong cộng đồng là 11,86% (phổ biến là 18, 58, 16). Vũ Thị Hoàng Lan (2012) khảo sát 4.500 phụ nữ tại Hà Nội (6,13%), TP.HCM (8,27%), Thái Nguyên (9,2%), Huế (8,6%) và Cần Thơ (10,2%), xác định HPV16, 18 và 58 là phổ biến nhất. Phạm Thọ Dược nghiên cứu tại Đắk Lắk trên 1.072 phụ nữ ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV 11,8% (HPV16 chiếm 28,6%, HPV18 chiếm 22,1%, HPV58 chiếm 15,6%). Lê Trung Thọ và Lê Quang Vinh (2011) ghi nhận tỷ lệ 9,3% tại Thái Nguyên, Cần Thơ, Huế. Hồ Thị Phương Thảo (2011) ghi nhận tỷ lệ HPV tăng theo mức độ tổn thương soi cổ tử cung (38,6% ở nhóm bình thường, 62,4% ở nhóm bất thường và 100% ở nhóm nghi ngờ ung thư xâm lấn). Đặc biệt, Nguyễn Thị Phương Mai nghiên cứu trên 188 bệnh nhân ung thư cổ tử cung ghi nhận tỷ lệ nhiễm HPV là 89,4% (HPV16 chiếm 43,5%, HPV18 chiếm 16,2%), trong đó 94% ca nhiễm HPV16 thuộc dòng Châu Âu (European).
Về mặt phân loại học và biến thể vi sinh, Bernard cùng các nghiên cứu quốc tế đã thiết lập hệ thống định danh dòng dõi cho chi Alphapapillomavirus (alpha-PV), bao gồm alpha-7 (chứa HPV18, 39, 45, 59, 68, 70, 85, 97) và alpha-9 (chứa HPV16, 31, 33, 35, 52, 58, 67). Các dòng chính của HPV16 gồm Châu Âu (A - European), Châu Phi 1 (B - Af-1), Châu Phi 2 (C - Af-2) và Châu Á - Châu Mỹ (D - Asian-American). Dữ liệu quốc tế cho thấy các biến thể Non-European (NE) như B, C, D có liên quan đến việc tăng nguy cơ phát triển CIN3 và ung thư xâm lấn gấp 2-4 lần so với dòng A, và dòng A4 tại khu vực Đông Á làm tăng nguy cơ tổn thương mức độ cao gấp 10 lần so với dòng A1.
Khoảng trống mà luận án lựa chọn giải quyết là xác định cấu trúc genotype chi tiết, phân lập các sublineage và phát hiện các dạng đột biến điểm trên các gen sinh ung then chốt E6, E7 và gen vỏ L1 của HPV16 và HPV18 trên nhóm bệnh nhân ung thư cổ tử cung tại miền Bắc Việt Nam, đồng thời phân tích mối liên quan giữa các biến thể này với đặc điểm lâm sàng, giai đoạn bệnh và loại mô bệnh học.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Cơ sở lý thuyết và các khung phân loại
Luận án dựa trên cơ sở sinh học phân tử về cấu trúc bộ gen của HPV. Bộ gen HPV là một phân tử DNA chuỗi đôi dạng vòng khép kín dài khoảng 7.000 - 8.000 cặp base (bp), gồm 10 khung đọc mở (ORF) chia thành ba vùng:
- Vùng điều hòa thượng nguồn (URR/LCR): Chiếm khoảng 800 - 1.000 bp, chứa trình tự tăng cường gắn nhân tố phiên mã (AP-1, NF1, TEF1...), promoter P97 (ở HPV16) hoặc P105 (ở HPV18) và điểm khởi đầu sao chép.
- Vùng gen sớm (Early region): Mã hóa 6 protein chức năng:
- Gen E1: Điều hòa sao chép DNA vi rút phối hợp cùng polymerase và histone H1.
- Gen E2: Kiểm soát phiên mã, ức chế biểu hiện gen sớm E6 và E7. Khi bộ gen HPV tích hợp vào DNA tế bào chủ, đoạn gen E2 thường bị đứt gãy làm mất ức chế phiên mã đối với E6 và E7.
- Gen E1^E4: Giúp vi rút trưởng thành và phóng thích khỏi tế bào.
- Gen E5: Kích thích thụ thể yếu tố tăng trưởng và ức chế quá trình chết theo chương trình (apoptosis).
- Gen E6: Mã hóa protein khoảng 150 acid amin có cấu trúc Cys-X-X-Cys gắn kẽm. Protein E6 liên kết với enzym E6AP tạo phức hệ giáng hóa protein ức chế khối u p53, liên kết với protein PDZ, c-myc và Bak gây bất tử hóa tế bào.
- Gen E7: Mã hóa protein 98 acid amin chứa motif LXCXE, có ái lực gắn kết cao gấp 10 lần ở nhóm nguy cơ cao với protein ức chế khối u pRb, làm giải phóng yếu tố phiên mã E2F tự do, thúc đẩy tế bào tiến vào pha S của chu kỳ phân chia.
- Vùng gen muộn (Late region): Mã hóa protein vỏ capsid chính L1 và capsid phụ L2. Vỏ capsid gồm 72 capsomere cấu trúc T=7 kích thước 55 nm. Trình tự khung đọc mở L1 là vùng bảo tồn nhất, được dùng làm tiêu chuẩn phân loại genotype (khác biệt $\ge 10%$), subtype (khác biệt 2-10%) và biến thể/variant (khác biệt 1-2% vùng mã hóa hoặc 5% vùng không mã hóa).
Các khung phân loại lâm sàng và cận lâm sàng được áp dụng:
- Phân loại tế bào học: Hệ thống Bethesda (2014) bao gồm các mức độ tổn thương: ASCUS, ASC-H, AGUS, LSIL, HSIL, AIS và ung thư biểu mô xâm lấn; đối chiếu với hệ thống Papanicolaou (P I đến P V) và WHO (1973).
- Phân loại mô bệnh học: Tiêu chuẩn Richart (1980) về tân sinh trong biểu mô cổ tử cung (CIN1, CIN2, CIN3) và phân loại mô bệnh học của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO 2018) / Hướng dẫn Bộ Y tế (2019) bao gồm ung thư biểu mô vảy (sừng hóa, không sừng hóa, vi xâm nhập...), ung thư biểu mô tuyến và ung thư biểu mô thần kinh nội tiết.
- Phân loại giai đoạn lâm sàng: Bảng phân loại FIGO 2018 từ giai đoạn 0 (ung thư tại chỗ), giai đoạn I (IA1, IA2, IB1, IB2, IB3), giai đoạn II (IIA1, IIA2, IIB), giai đoạn III (IIIA, IIIB) đến giai đoạn IV (IVA, IVB).
Bảng đối chiếu phân loại tổn thương tế bào cổ tử cung
| Papanicolaou (1954) |
WHO (1973) |
Bethesda (2014) |
| P I: Bình thường |
Mẫu tế bào bình thường |
Bình thường |
| P II: Tế bào biến đổi lành tính |
Tế bào biến đổi lành tính |
Tế bào biến đổi lành tính |
| P III: Có tế bào nghi ngờ ác tính |
Loạn sản nhẹ (CIN1) |
ASCUS, ASC-H, AGUS, LSIL |
| P IV: Có ít tế bào ác tính |
Loạn sản vừa (CIN2), nặng (CIN3), CIS |
HSIL, Ung thư biểu mô vảy tại chỗ |
| P V: Dày đặc tế bào ác tính |
Ung thư biểu mô xâm nhập |
Ung thư biểu mô xâm nhập |
Phương pháp nghiên cứu thực tế
- Thiết kế nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang, áp dụng kỹ thuật thu thập số liệu tiến cứu.
- Kỹ thuật xét nghiệm phát hiện và định genotype HPV:
- Sử dụng hệ thống tự động Cobas 4800 (Roche Molecular Systems), thực hiện đồng thời ly trích acid nucleic tự động, phản ứng real-time PCR và lai phân tử. Kỹ thuật cho phép xác định định danh riêng biệt hai tuýp HPV16, HPV18 và phát hiện chung nhóm gồm 12 tuýp nguy cơ cao khác (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66, 68).
- Kỹ thuật phân tích biến thể gen:
- Thực hiện phản ứng PCR khuếch đại các đoạn gen mục tiêu E6, E7 và L1 của các mẫu dương tính với HPV16 và HPV18.
- Giải trình tự chuỗi nucleotide (Sanger sequencing) trực tiếp các sản phẩm PCR.
- Phân tích đối chiếu trình tự với ngân hàng dữ liệu gen chuẩn để xác định các đột biến nucleotide và acid amin.
- Xây dựng cây phát sinh loài (phylogenetic tree) nhằm xác định dòng (lineage) và dòng con (sublineage) của HPV16 và HPV18.
- Phương pháp thu thập và xử lý số liệu: Thu thập thông tin hành chính, tiền sử sản phụ khoa, triệu chứng cơ năng, hình ảnh soi cổ tử cung, kết quả tế bào học, mô bệnh học và giai đoạn bệnh theo bệnh án nghiên cứu thống nhất. Xử lý và phân tích số liệu y sinh học bằng các thuật toán thống kê y học phù hợp.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Tổng quan tài liệu
Chương này tổng thuật toàn diện cơ sở lý thuyết về virus HPV và ung thư cổ tử cung:
- Cấu trúc sinh học và chức năng gen: Trình bày chi tiết cấu trúc hạt vi rút, cấu tạo DNA chuỗi đôi dạng vòng 8 kb, tổ chức 10 khung đọc mở (ORF), vùng điều hòa URR/LCR và các protein chức năng (E1, E2, E1^E4, E5, E6, E7, L1, L2). Phân tích cơ chế bệnh sinh phân tử khi protein E6 bất hoạt p53 và E7 bất hoạt pRb dẫn tới mất ổn định bộ gen và chuyển dạng ác tính của tế bào biểu mô cổ tử cung.
- Dịch tễ học và các phương pháp chẩn đoán: Tổng hợp tỷ lệ nhiễm HPV trên thế giới và tại Việt Nam qua các nghiên cứu đại diện; cơ chế lẩn tránh miễn dịch thông qua ức chế các yếu tố điều hòa interferon IRF-1 và IRF-3. Trình bày các phương pháp sàng lọc và chẩn đoán: tế bào học PAP smear/ThinPrep, quan sát cổ tử cung với acid acetic (VIA, độ nhạy 65-96%, độ đặc hiệu 49-98%), quan sát với dung dịch Lugol (VILI, độ nhạy 92%, độ đặc hiệu 85%), soi cổ tử cung và sinh thiết mô bệnh học.
- Phân loại biến thể HPV: Hệ thống hóa danh pháp phân loại của chi Alphapapillomavirus, quy chuẩn xác định kiểu gen (genotype), phân nhóm (subtype) và biến thể (variant). Trình bày chi tiết các nghiên cứu về mối liên quan giữa các dòng biến thể HPV16 (dòng A, B, C, D) và HPV18 với nguy cơ tồn tại dai dẳng, tiến triển CIN3 và loại mô bệnh học ung thư cổ tử cung trên các quần thể dân cư toàn cầu.
Chương 2: Đối tượng và phương pháp nghiên cứu
Chương này mô tả chi tiết quy trình tổ chức và triển khai nghiên cứu tại cơ sở thực địa:
- Tiêu chuẩn mẫu nghiên cứu: Xác định tiêu chuẩn lựa chọn và tiêu chuẩn loại trừ nghiêm ngặt đối với bệnh nhân ung thư cổ tử cung điều trị tại Khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong giai đoạn 2017 - 2020.
- Quy trình kỹ thuật và thu thập số liệu: Mô tả quy trình lấy mẫu tế bào/mô cổ tử cung, bảo quản mẫu và thực hiện xét nghiệm phát hiện HPV DNA bằng máy Cobas 4800 (Roche). Quy trình khuếch đại gen PCR và giải trình tự gen E6, E7, L1 nhằm xác định các đột biến nucleotide và dựng cây phả hệ xác định lineage/sublineage.
- Tiêu chuẩn đánh giá và biến số: Định nghĩa và phân loại các biến số nghiên cứu: tuổi, tiền sử sản phụ khoa, lý do vào viện, triệu chứng ra máu âm đạo, tiết dịch âm đạo, đau vùng chậu; hình ảnh soi cổ tử cung; kết quả tế bào học (Bethesda 2014); kết quả mô bệnh học (WHO 2018 / Bộ Y tế 2019) và giai đoạn bệnh theo FIGO 2018. Trình bày phương pháp xử lý số liệu thống kê và các quy định y đức trong nghiên cứu y sinh học.
Chương 3: Kết quả nghiên cứu
Chương này trình bày các số liệu và bảng biểu thực nghiệm thu được từ nhóm bệnh nhân nghiên cứu:
- Đặc điểm lâm sàng và cận lâm sàng: Tổng hợp phân bố tuổi, tiền sử thai nghén, lý do vào viện khám bệnh, triệu chứng cơ năng (xuất huyết âm đạo bất thường, ra máu sau giao hợp, tiết dịch âm đạo thay đổi tính chất, đau vùng hạ vị/thắt lưng). Kết quả đánh giá tổn thương đại thể khi đặt mỏ vịt và soi cổ tử cung (dạng sùi hoa súp lơ, loét sùi, dễ chảy máu). Phân bố giai đoạn ung thư cổ tử cung theo hệ thống FIGO 2018. Kết quả tế bào học theo danh pháp Bethesda và kết quả phân loại mô bệnh học (tỷ lệ ung thư biểu mô tế bào vảy sừng hóa/không sừng hóa, ung thư biểu mô tuyến và các dạng u biểu mô khác).
- Phân bố genotype của HPV: Tỷ lệ nhiễm chung các genotype HPV; tỷ lệ nhiễm đơn độc (đơn nhiễm) và đồng nhiễm nhiều tuýp HPV; tỷ lệ phân bố của HPV16, HPV18 và nhóm 12 tuýp nguy cơ cao (1/12NCC). Phân tích mối liên quan giữa phân nhóm genotype HPV với độ tuổi của bệnh nhân, các giai đoạn bệnh FIGO và tình trạng tổn thương thực thể tại cổ tử cung.
- Đặc điểm biến dị gen và dòng biến thể của HPV16 và HPV18:
- Kết quả giải trình tự nucleotide các đoạn gen E6, E7 và L1 của các chủng HPV16 và HPV18 phân lập được.
- Phân tích số lượng, vị trí và các kiểu đột biến điểm trên từng đoạn gen: xác định đột biến thay thế nucleotide điển hình như đột biến 350 G>T (gen E6), 647 A>G (gen E7), 7060 G>A (gen L1) của HPV16.
- Xác định các sublineage của HPV16 gồm các dưới nhóm dòng Châu Âu A (A1, A2, A3, A4) và dòng Châu Á - Châu Mỹ D (D1, D3); cấu trúc sublineage của HPV18 (A1).
- Phân tích cây phả hệ (phylogenetic tree) của các chủng HPV16 và HPV18 dựa trên dữ liệu giải trình tự kết hợp ba gen E6, E7 và L1.
- Đánh giá mối tương quan giữa các sublineage của HPV16, HPV18 với tình trạng đồng nhiễm, giai đoạn bệnh lâm sàng FIGO, đặc điểm tổn thương đại thể và phân loại mô bệnh học.
Chương 4: Bàn luận
Chương này biện giải các phát hiện nghiên cứu trong mối tương quan với y văn trong nước và quốc tế:
- Đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng: Bàn luận về mối liên quan giữa tuổi mắc bệnh, tiền sử sinh đẻ, triệu chứng xuất huyết âm đạo bất thường và tỷ lệ chẩn đoán muộn theo các giai đoạn FIGO. Đánh giá tính phù hợp và giá trị của các phương pháp tế bào học, mô bệnh học trong chẩn đoán ung thư cổ tử cung.
- Phân bố genotype HPV: So sánh tỷ lệ nhiễm HPV16, HPV18 và các tuýp nguy cơ cao khác với các công trình nghiên cứu trước đây tại Việt Nam (Nguyễn Thị Phương Mai, Trần Thị Lợi, Vũ Thị Hoàng Lan, Phạm Thọ Dược) và các nghiên cứu quốc tế.
- Đặc điểm biến thể gen E6, E7, L1 và ý nghĩa sinh học: Biện giải sự phân bố các sublineage (A1, A2, A3, A4, D1, D3 của HPV16 và A1 của HPV18), tần suất xuất hiện đột biến T350G trên gen E6 và các đột biến trên gen E7, L1. Phân tích vai trò của các biến thể Non-European và các đột biến điểm đặc hiệu đối với khả năng trốn tránh miễn dịch, sự biểu hiện liên tục của oncoprotein E6/E7 và mức độ tiến triển ác tính trên mô bệnh học. Phân tích các hạn chế kỹ thuật của nghiên cứu.
Kết quả và những đóng góp mới
Những đóng góp mới về mặt lý luận và khoa học
- Cung cấp dữ liệu sinh học phân tử chi tiết về biến thể HPV16 và HPV18: Luận án là công trình nghiên cứu chuyên sâu tại Việt Nam phân tích đồng thời trình tự ba vùng gen then chốt (E6, E7 và L1) của HPV16 và HPV18 trên bệnh nhân ung thư cổ tử cung, cung cấp bằng chứng thực nghiệm về các biến thể nucleotide và đột biến acid amin.
- Xác định cấu trúc dòng phụ (sublineage) và cây phả hệ phân tử: Luận án đã giải trình tự và xác định được sự hiện diện của các sublineage thuộc dòng A (A1, A2, A3, A4) và dòng D (D1, D3) đối với HPV16, cũng như dòng A1 đối với HPV18; xây dựng cây phả hệ phân tử phản ánh đặc điểm tiến hóa của các chủng virus lưu hành tại miền Bắc Việt Nam.
- Làm rõ các đột biến điểm đặc trưng: Luận án xác định các dạng đột biến cụ thể trên gen sinh ung E6 (như đột biến T350G / 350 G>T), E7 (647 A>G) và L1 (7060 G>A), đóng góp dữ liệu vào ngân hàng gen HPV quốc tế và khu vực.
Đóng góp thực tiễn và các khuyến nghị
- Giá trị trong thực tiễn lâm sàng và tiên lượng: Kết quả nghiên cứu làm rõ mối tương quan giữa các genotype, dòng biến thể HPV với các giai đoạn lâm sàng (FIGO) và loại mô bệnh học, giúp cung cấp cơ sở tham khảo cho việc đánh giá mức độ tiến triển của khối u.
- Định hướng chiến lược dự phòng và vắc-xin: Cung cấp bằng chứng thực địa về phổ genotype và biến thể vi rút đang lưu hành tại Việt Nam, làm cơ sở khoa học cho việc đánh giá hiệu quả bảo vệ chéo của các loại vắc-xin phòng ngừa HPV hiện hành.
- Kiến nghị: Tiếp tục duy trì xét nghiệm phát hiện HPV nguy cơ cao bằng kỹ thuật sinh học phân tử chuẩn hóa trong sàng lọc ung thư cổ tử cung; khuyến khích việc phân tích biến thể gen ở những nhóm bệnh nhân có nguy cơ cao tiến triển bệnh.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế của nghiên cứu:
- Nghiên cứu được triển khai tại một trung tâm chuyên khoa duy nhất (Khoa Phụ ung thư, Bệnh viện Phụ sản Trung ương), do đó phân bố mẫu bệnh nhân có thể tập trung vào các thể bệnh nặng hoặc giai đoạn tiến triển.
- Tiêu chuẩn lựa chọn mẫu phụ thuộc vào xét nghiệm sàng lọc ban đầu trên hệ thống máy Cobas 4800 của hãng Roche, chỉ phân tích sâu các mẫu dương tính với HPV16, 18 và nhóm 12 nguy cơ cao còn lưu mẫu đạt chuẩn.
- Phân tích biến dị di truyền chỉ tập trung vào ba đoạn gen chức năng mục tiêu (E6, E7, L1) thông qua kỹ thuật giải trình tự đoạn khuếch đại PCR, chưa thực hiện giải trình tự toàn bộ bộ gen (whole-genome sequencing).
- Hướng nghiên cứu tiếp theo:
- Mở rộng nghiên cứu đa trung tâm với cỡ mẫu lớn hơn trên nhiều vùng địa lý khác nhau tại Việt Nam.
- Ứng dụng công nghệ giải trình tự thế hệ mới (Next-Generation Sequencing - NGS) và phân tích metagenomics để giải trình tự toàn bộ hệ gen vi rút, phân tích sâu hơn các đột biến trên vùng điều hòa URR/LCR và các gen E1, E2, E5 trong quá trình tích hợp vào nhiễm sắc thể người.
Giá trị tham khảo
Luận án mang lại giá trị tham khảo chuyên môn cho nhiều đối tượng trong ngành y tế:
- Bác sĩ Sản phụ khoa và Ung bướu: Cung cấp số liệu cập nhật về đặc điểm tổn thương đại thể, hình ảnh soi cổ tử cung, triệu chứng lâm sàng và sự phân bố giai đoạn bệnh theo hệ thống phân loại FIGO 2018, hỗ trợ nâng cao năng lực chẩn đoán sớm và phân loại nguy cơ.
- Chuyên gia Giải phẫu bệnh và Tế bào học: Cung cấp khung tham chiếu đối chiếu chi tiết giữa hệ thống phân loại tế bào Bethesda (2014) với Papanicolaou, WHO và phân loại mô bệnh học theo hướng dẫn của Bộ Y tế (2019).
- Nhà nghiên cứu Sinh học phân tử và Dịch tễ học vi sinh: Tài liệu tham khảo về quy trình xét nghiệm HPV DNA trên hệ thống Cobas 4800, kỹ thuật khuếch đại gen và giải trình tự gen E6, E7, L1, cùng phương pháp dựng cây phát sinh loài để phân loại dòng và dòng con HPV.
- Giảng viên và Nghiên cứu sinh Y học: Nguồn dữ liệu tổng quan toàn diện về cấu trúc bộ gen, chức năng sinh ung của các oncoprotein E6, E7, cơ chế tác động lên p53, pRb và dịch tễ học nhiễm HPV tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Nghiên cứu sử dụng kỹ thuật gì để sàng lọc và định danh các tuýp HPV ban đầu?
Nghiên cứu sử dụng hệ thống Cobas 4800 của hãng Roche (Thụy Sĩ), ứng dụng phản ứng real-time PCR tự động kết hợp lai acid nucleic để định danh độc lập hai tuýp HPV16, HPV18 và phát hiện nhóm gồm 12 tuýp HPV nguy cơ cao khác (31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 58, 59, 66 và 68).
2. Hai protein sinh ung thư chính của HPV là gì và cơ chế tác động của chúng lên tế bào chủ diễn ra như thế nào?
Hai protein sinh ung chính là E6 và E7. Protein E6 liên kết với enzym E6AP thúc đẩy sự thoái triển của protein ức chế khối u p53 và tương tác với protein PDZ làm mất kiểm soát chu kỳ tế bào. Protein E7 liên kết với protein ức chế khối u pRb qua motif LXCXE, giải phóng yếu tố phiên mã E2F tự do, kích thích tế bào chuyển sang pha S phân chia liên tục mà không cần thông qua quá trình phosphoryl hóa pRb.
3. Vùng gen nào của HPV được xem là bảo tồn nhất và thường được sử dụng để phân loại kiểu gen?
Khung đọc mở mã hóa protein vỏ chính L1 (Late region 1) là vùng bảo tồn nhất trong bộ gen vi rút HPV và được cộng đồng khoa học quốc tế sử dụng làm tiêu chuẩn để xác định, định loại các kiểu gen (genotype), phân nhóm (subtype) và biến thể (variant).
4. Luận án đã xác định được những dòng con (sublineage) nào của HPV16 và HPV18 ở bệnh nhân ung thư cổ tử cung?
Dựa trên giải trình tự gen E6, E7 và L1 kết hợp dựng cây phả hệ, luận án đã xác định các sublineage của HPV16 gồm các nhóm dòng Châu Âu A (A1, A2, A3, A4) và dòng Châu Á - Châu Mỹ D (D1, D3); đối với HPV18 xác định được sublineage dòng A1.
5. Các dạng đột biến điểm tiêu biểu nào trên các gen E6, E7 và L1 của HPV16 được ghi nhận trong nghiên cứu?
Các dạng đột biến thay thế nucleotide tiêu biểu được phân tích trong luận án bao gồm đột biến 350 G>T (T350G) trên gen E6, đột biến 647 A>G trên gen E7 và đột biến 7060 G>A trên gen L1 của các mẫu bệnh phẩm nhiễm HPV16.
Kết luận
Luận án tiến sĩ của tác giả Hoàng Xuân Sơn đã mô tả hệ thống các đặc điểm lâm sàng, cận lâm sàng và phân bố giai đoạn FIGO 2018 của bệnh nhân ung thư cổ tử cung tại Bệnh viện Phụ sản Trung ương trong giai đoạn 2017 - 2020. Công trình đã xác định chính xác tỷ lệ nhiễm các genotype HPV nguy cơ cao bằng hệ thống sinh học phân tử Cobas 4800, đồng thời hoàn thành việc giải trình tự ba vùng gen chức năng E6, E7 và L1 của HPV16 và HPV18. Các dữ liệu về biến thể di truyền, đột biến điểm và cây phả hệ sublineage (A1-A4, D1, D3 của HPV16; A1 của HPV18) cung cấp cơ sở khoa học thực nghiệm có giá trị cho nghiên cứu dịch tễ học phân tử và định hướng chẩn đoán, dự phòng ung thư cổ tử cung tại Việt Nam.