Chương 1: TÔNG QUAN TÀI LIỆU.5 Chương 2: PHUƠNG PHÁP NGHIÊN cứu. Đối tượng nghiên cứu:. Thời gian và địa điểm nghiên cứu. Thiết kế nghiên cứu:.
Mầu và phương pháp chọn mẫu. Xử lý và phân tích số liệu:. Quy trình hướng dẫn trả kết quả HPV và các tư vấn. Qui trình giám sát.
Khía cạnh đạo đức trong nghiên cứu :. Hạn chế và sai số của nghiên cứu:. Biện pháp khắc phục sai số.46 Chương 3: KẾT QUẢ NGHIÊN cứu.47 Chương 4: BÀN LUẬN. 72 Chương 5: KẾT LUẬN.
81 Chương 6: KHUYẾN NGHỊ. 83 TÀI LIỆU THAM KHẢO. 84 PHỤ LỤC 1: GIẤY ĐỒNG Ý THAM GIA.1 PHỤ LỤC 2: BỘ CÂU HỎI PHỎNG VÁN. 3 PHỤ LỤC 3: HÌNH THU THẬP SỐ LIỆU.10 vi TÓM TẮT NGHIÊN cứu HPV (Human Papillomavirus) là thành viên của gia đình Papova viridal virus với trên 100 chủng loại [4], Nhiễm HPV là một bệnh lây qua đường tình dục (BLTQĐTD), ước tính có khoảng 50-80% phụ nữ sẽ nhiễm HPV trong cuộc đời.
Sự tái nhiễm nhiều lần chủng HPV NCC làm tổn thương các tân sinh trong biểu mô trở nên không điển hình và tiến triển đưa đến ung thư cổ tử cung (UTCTC) xâm lấn [2], Hiện nay tại Việt Nam, rất ít nghiên cứu về thực trạng nhiễm HPV cũng như sự phân bố các type nhiễm HPV, đa số các nghiên cứu đều xem yếu tố nguy cơ của UTCTC cũng là yếu tố nguy cơ của nhiễm HPV. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “ Mô tả thực trạng nhiễm HPV và các yếu tố liên quan của phụ nữ đã lập gia đình từ 15-65 tuổi tại quận Tân Bình- Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010”. Nghiên cứu của chúng tôi sử dụng phương pháp nghiên cứu cắt ngang có phân tích với các mục tiêu : 1) Xác định tỉ lệ hiện nhiễm HPV của phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi từ 15-65 tại quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh, 2) Mô tả một số đặc điểm dịch tễ về tình trạng nhiễm HPV và xác định một số yếu tố liên quan của phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi từ 15-65 tại quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh, 3) Tìm hiểu thực trạng kiến thức và mong muốn tiếp cận thông tin về HPV và UTCTC phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi từ 15-65 tại quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu tiến hành trong thời gian từ tháng 4 đến tháng 9 năm 2010.
Cỡ mẫu nghiên cứu là 750 phụ nữ trong độ tuổi từ 15-65 tuổi tại quận Tân Bình Thành Phố Hồ Chí Minh. Các phụ nữ tham gia nghiên cứu được hỏi thông tin về nhân khẩu học, tiền sử viêm nhiễm đường sinh sản, các BLTQĐTD, tiền sử sản phụ khoa, một số nguồn thông tin về HPV và được khám và lấy mẫu bệnh phẩm xét nghiệm HPV và tế bào phiến đồ âm đạo bất thường (pap smear), số liệu được nhập bằng phần mềm Epi data 3.0 và phân tích bằng phần mềm SPSS 18. Nghiên cứu được hội đồng Đạo đức của trường Đại học Y tế công cộng thông qua. Kết quả xét nghiệm được gửi lại cho đối tượng tham gia nghiên cứu cùng với hướng dẫn tư vấn liên quan đến kết quả xét nghiệm.
7 Kết quả cho thấy tỉ lệ nhiễm HPV của phụ nữ tại quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh là 8,4%. Có tất cả 15 type HPV được xác định trong đó năm type HPV có tỉ lệ hiện mắc cao nhất ở HPV 18, 11, 16, 58 và 70. Bên cạnh đó, tỷ lệ nhiễm HPV đon type ở các phụ nữ tham gia nghiên cứu là 65,1%, trong đó tỷ lệ nhiễm đa tye là 20,6%, ba type là 11,1%, bốn type là 1,6%, sáu type là 1,6% trên toàn mẫu nghiên cứu. Tuổi nhiễm HPV cao nhất ở nhóm từ 45-54 tuổi là 12,7%, kế đến là nhóm tuổi từ 8,7%, nhóm tuổi từ 35-44 tuổi là 8%, nhóm tuổi từ 25-34 là 7,3%, nhóm tuổi 55-65 là 5,3%.
Trên toàn mẫu tỉ lệ phụ nữ có kết quả tế bào phiến đồ âm đạo bất thường là 4,27% trong đó dạng phổ biến bất thường nhất Asgus (90,6%). Có 3 trường họp vừa nhiễm HPV vừa có kết quả tế bào học bất thường. Nguồn thông tin tiếp cận của các đối tượng chỉ có hon % đối tượng tham gia nghiên cứu đã từng nghe/đọc/xem về nhiễm HPV, có 53,3% phụ nữ đã từng nghe về HPV và chỉ có 8,7% trả lời HPV có thể gây chết người, có 1,2% đối tượng đã tiêm phòng HPV và 98,8% chưa tiêm phòng HPV. Tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tuổi mang thai và tình trạng nhiễm HPV của các đối tượng.
Tuy nhiên, trong nghiên cứu của chúng tôi không tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa tình trạng hôn nhân, hút thuốc lá và tuổi của các đối tượng tham gia nghiên cứu. ĐẶT VẨN ĐỀ HPV (Human Papilloma Virus) là một trong những tác nhân lây nhiễm qua đường tình dục phổ biến. Xét về tính gây ung thư HPV có hai nhóm: nguy cơ cao (NCC) và nguy cơ thấp (NCT). Những nhóm có NCC có liên quan mạnh đến bệnh lý ung thư: hầu như các trường hợp UTCTC đều phát hiện có nhiễm HPV NCC; trái lại nhóm HPV NCT thì hiếm khi gặp trong các trường họp ung thư [12], Có nhiều hơn 100 type HPV có vai trò gây bệnh liên quan đến bệnh lý da và niêm mạc và khoảng 40 type có tác động lên đường sinh dục, đặc biệt liên quan đến bệnh lý UTCTC.
Nhóm được gọi là NCC bao gồm các type 16 (HPV-16), 18, 31, 33, 35, 39, 45, 51, 52, 56, 59, 66 và HPV-68. Các type HPV-6,11, 42, 43, 44 được gọi là nhóm NCT[11]. Nhiễm HPV là nguyên nhân hàng đầu gây UTCTC [5]. Trong đó HPV chịu trách nhiệm 99,7% UTCTC, type HPV 16 và 18 chiếm 70% [2], Trên thế giới, các nghiên cứu về tỷ lệ nhiễm HPV trong dân số chung cũng như các phụ nữ có tiền ung thư hoặc ung thư cho thấy tỉ lệ nhiễm HPV thay đổi theo vùng, chủng tộc, nhóm tuổi, mức độ tổn thương tế bào học cũng như là mô học.
Tỷ lệ nhiễm HPV cao nhất ở Nigeria là 24,7% nhưng lại thấp nhất ở Tây Ban Nha là 1,3% [32], Ở một số quốc gia khác, tỷ lệ nhiễm HPV tại Ý, Chile, Hàn Quốc, phụ nữ Mỹ gốc Mêhicô lần lượt là 7,8%, 10,4%,10,8%, 14,4% [32] [41] [37]. Các yếu tố nguy cơ việc nhiễm HPV khác nhau tại các quốc gia [36]. Một vài nghiên cứu cũng tìm ta các yếu tố liên quan đến việc nhiễm HPV như tuổi quan hệ lần đầu, tình trạng hôn nhân, hút thuốc lá và số bạn tình, tình trạng nhiễm trùng hiện tại. Tuy nhiên các kết quả nghiên cứu này vẫn chưa thống nhất với nhau [14] [37] [36], Việc định danh các type HPV có vai trò quan trọng trong việc tiên lượng cũng như là các quá trình theo dõi diễn tiến của tổn thương.
Trong đó các type nhiễm HPV cũng thay đổi theo vùng, tuổi, và dân tộc, trong đó HPV 18 chiếm tỷ lệ cao nhất ở vùng Tây Nam Á, HPV 15 chiếm tỷ lệ tương đối cao ở vùng Tây Phi, HPV 39 tập trung cao nhất ở vùng Nam Mỹ. Tại Việt Nam, các nghiên cứu về nhiễm HPV tập trung chủ yếu ở tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh. Nghiên cứu của Nguyễn Trọng Hiếu và cộng sự cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV trong cộng đồng tại Hà Nội và Thành phố Hồ Chí Minh là 2,4% và 10,9%. Nghiên cứu của Phạm Hoàng Anh cũng cho thấy tỷ lệ nhiễm HPV tại thành phố Hồ Chí Minh và Hà Nội lần lượt là 10,9% và 2%[40].
Gần đây nhất là nghiên cứu của Trần Thị Lợi cho biết tỷ lệ nhiễm HPV tại Thành phố Hồ Chí Minh là 10,84% [14], Quận Tân Bình là được thành lập bao gồm 10 phường theo nghị định 130/NĐ-CP ngày 05/11/2003 của Chính Phủ, từ Thị trấn An Lạc, xã Bình Hưng Hoà, xã Bình Trị Đông và xã Tân Tạo của huyện Bình Chánh trước đây. Dân số quận Tân Bình trung bình năm 2008 là 265.411 người, trong đó nữ chiếm 52,55%, do tác động của quá trình đô thị hoá, dân số quận Tân Bình tăng rất nhanh trong thời gian qua, tốc độ tăng dân số bình quân năm giai đoạn 1999-2003 là 16,17% [46]. Do đó, đa số lực lượng lao động trẻ nơi đây đã nhanh chóng hòa nhập với nền sản xuất hiện đại là công nghiệp và dịch vụ. Tuy nhiên, các dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản và cho phụ nữ nơi đây chưa được quan tâm đúng mức.
Vì vậy câu hỏi chúng tôi đặt ra là: Thực trạng nhiễm HPV ở phụ nữ từ 15-69 tuổi ở đây như thế nào? Có bao nhiêu phụ nữ có kiến thức về nhiễm HPV và nguồn tiếp cận về HPV và UTCTC ? Sự phân bố các yếu tố nguy cơ nhiễm HPV ở phụ nữ trong quận Tân Bình này. Để làm rõ hơn về khía cạnh trên, chúng tôi tiến hành NC “Mô tả thực trạng nhiễm HPV và các yếu tố liên quan của phụ nữ đã lập gia đình ở độ tuổi từ 15-65 tại quận Tân Bình- Thành phố Hồ Chí Minh năm 2010”. MỤC TIÊU NGHIÊN cứu Mục tiêu chung: Mô tả thực trạng nhiễm HPV của phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi từ 15-65 tại Thành phố Hồ Chí Minh và sự phân bố của các yếu tố nguy cơ liên quan đến việc nhiễm HPV. Mục tiêu cụ thể: 1.
Xác định tỉ lệ hiện nhiễm HPV của phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi từ 15-65 tại quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh. Mô tả một số đặc điểm dịch tễ học về tình trạng nhiễm HPV và xác định một số yếu tố liên quan của phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi từ 15-65 tạ quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh. Tìm hiểu thực trạng kiến thức và mong muốn tiếp cận thông tin về HPV và UTCTC của phụ nữ đã lập gia đình trong độ tuổi từ 15-65 tại quận Tân Bình Thành phố Hồ Chí Minh. Tình trạng nhiễm HPV quận Tân Bình Nguồn thông tin Tiền sử kinh nguyệt Tiền sử sản khoa, Tiền sử đời sống Tiền sử hút truyền thông - Tuổi có kinh - KHHGD và bệnh phụ tình dục thuốc lá - Kinh có điều - Số khoa - Mang thai - Sẩy -TuổiQHTD - Sử Tuổi - Tiếp ngày ra máu thai - Nạo th dụng BCS - Số xúc thuốc lá bạn tình Đặc điểm dịch tễ học của HPV Nhóm tuổi: Type NCC Type Nhiễm đon type và Các type HPV Phân bố nhiễm NCT Cả hai type nhiễm đa type ( Hai được định danh HPV trên xét type, ba nghiệm Pap bất thường Chưong 1 TỒNG QUAN TÀI LIỆU 1.1 Sơ LƯỢC VÈ HÌNH THÁI, CAU TRÚC VÀ CHỨC NĂNG CỦA HPV 1.1 Siêu cấu trúc và nhân lên của HPV HPV thuộc họ papovaviridae.