Chương 1: KIỂM TRA TRONG GIÁO DỤC 1. Các khái niệm kiểm tra, đánh giá 1. Kiểm tra Kiểm tra trong tiếng Anh là Checking; trong Đại từ điển 1tiếng Việt của Nguyễn Như Ý giải thích kiểm tra là xem xét thực chất, thực tế. Theo Bửu Kế, kiểm tra là tra xét, xem xét, là soát xét lại công việc; kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá và nhận xét; kiểm tra là cung cấp những dữ kiện, thông tin làm cơ sở cho việc đánh giá.
- Trong quản trị tổ chức: Kiểm tra là chức năng quản lý, kiểm tra việc đo lường quá trình thực hiện kế hoạch trên thực tế, qua đó phát hiện những sai lệch nhằm đưa ra biện pháp điều chỉnh kịp thời để đảm bảo rằng tổ chức sẽ thực hiện được các mục tiêu kế hoạch đề ra. - Bản chất của kiểm tra là một hệ thống phản hồi về kết quả của các hoạt động. Các nhà khoa học giáo dục cho rằng: kiểm tra với nghĩa là nhằm thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại công việc thực tế để đánh giá và nhận xét (xem sơ đồ vòng liên hệ ngược kiểm tra) Hình 1. Sơ đồ bản chất các kiểm tra trong giáo dục Đầu vào Quá trình Đầu ra (Người học; Mục tiêu, Nội dung Tổ chức thực Mục tiêu GD Chương trình, hiện giáo dục Mục tiêu ĐT Nguồn lực, Định và đào tạo Sản phẩm chế giáo dục…) Dịch vụ GD Hệ thống kiểm tra - Trong giáo dục, kiểm tra là thuật ngữ chỉ cách thức hoặc hoạt động của người giáo viên/giảng viên (GV) sử dụng thu thập thông tin về biểu hiện năng lực (về kiến thức, kỹ năng và thái độ) của học sinh/sinh viên (HS, SV), kiểm tra 1 Nguyễn Như Ý (2011), Đại từ điển tiếng Việt, Nxb Đại học Quốc gia, Thành phố 2 là thu thập số liệu, chứng cứ, xem xét, soát xét lại hoạt động dạy học thực tế để giúp đánh giá và nhận xét có đầy đủ minh chứng.
Những yêu cầu đối với hệ thống kiểm tra a) Qúa trình kiểm tra (gồm 4 bước) (1) Xây dựng các tiêu chuẩn (tiêu chuẩn chất lượng); (2) Đo lường các nhiệm vụ theo chuẩn được xây dựng; (3) So sánh sự khác biệt giữa thực tế các tiêu chuẩn đặt ra; (4) Đánh giá các quy định điều chỉnh (xem hình 1. Sơ đồ vòng liên hệ ngược kiểm tra Kết quả Kết quả thực Đo lường kết So sánh với mong muốn tế quả thực tế các tiêu chuẩn Thực hiện Xây dựng Phân tích Xác định các điều chỉnh chương trình nguyên nhân sai lệch điều chỉnh sai lệch b) Những yêu cầu đối với hệ thống kiểm tra (i) Hệ thống kiểm tra cần được thiết kế theo các kế hoạch (phản ánh kế hoạch mà chúng theo dõi); (ii) Kiểm tra phải mang tính đồng bộ (chất lượng của quá trình hoạt động; chứ không chỉ chú ý đến kết quả cuối cùng); (iii) Kiểm tra phải công khai, chính xác và khách quan; (iv) Kiểm tra cần phù hợp với tổ chức và con người trong hệ thống; (v) Kiểm tra cần phải linh hoạt và có độ đa dạng hợp lý; (vi) Kiểm tra cần phải hiệu quả; (vii) Kiểm tra cần có trọng điểm; (viii) Kiểm tra cần được tiến hành ngay tại nơi hoạt động (không chỉ dựa vào số liệu). Đánh giá Đánh giá là quá trình hình thành những nhận định, phán đoán về kết quả công việc dựa vào sự phân tích những thông tin thu được, đối chiếu với những mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất những quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc. Theo Đại từ điển tiếng Việt của Nguyễn Như Ý, đánh giá là nhận xét, bình phẩm về giá trị.
Đánh giá kết quả giáo dục, là quá trình thu thập và xử lý kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo. Đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính. Đánh giá trong giáo dục, theo Dương Thiệu Tống, là quá trình thu thập và xử lí kịp thời, có hệ thống thông tin về hiện trạng và hiệu quả giáo dục, căn cứ vào mục tiêu dạy học, làm cơ sở cho những chủ trương, biện pháp và hành động trong giáo dục tiếp theo. Có thể nói rằng, đánh giá là quá trình thu thập, phân tích và giải thích thông tin một cách hệ thống nhằm xác định mức độ đạt đến của các mục tiêu giáo dục; đánh giá có thể thực hiện bằng phương pháp định lượng hay định tính2.
Đánh giá quốc gia và quốc tế Đánh giá quốc gia: Các quốc gia đều tăng cường đánh giá cấp quốc gia ở giáo dục bắt buộc (như SAT ở Singapore, SAT và SCAT ở Hàn Quốc, SAT, AIMS ở Hoa Kì…) và chủ yếu vào các năng lực cơ bản là đọc, viết, làm toán…3 Đánh giá quốc tế: Các nước tạo ra một số công cụ KT đánh giá rất hữu hiệu như: Nghiên cứu về xu thế trong Toán học và Khoa học quốc tế (Trends in International Mathematics and Scientics - TIMSS), nghiên cứu về sự tiến bộ về năng lực đọc hiểu quốc tế (Program in International Reading Listeracy Study- PIRLS), cuộc thi và đánh giá quốc tế đối với trường học (International Competitions and Assessments for Schools - ICAS), chương trình ĐGHS, SV quốc tế (Program for International Student Assessment -PISA), chương trình chuẩn so sánh điện tử trong giáo dục(Electronic Benchmarking in Education - EBIE) ở Australia, đã triển khai đánh giá các trường phổ thông quốc tế… 2 Dương Thiệu Tống (1995), Trắc nghiệm và đo lường thực hành thành quả học tập(phương pháp thực hành), Trường Đại học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh. 3 Vũ Thị Phương Anh (2006), “Kiểm tra đánh giá để phục vụ học tập: Xu hướng mới của thế giới và bài học cho Việt Nam”, Kỉ yếu Hội thảo khoa học “Kiểm tra đánh giá để phát huy tính tích cực của người học bậc trung học”, TP HCM 4 ICAS được triển khai bởi UNSW Global Pty Limited. UNSW Global là một tổ chức phi lợi nhuận, cung cấp dịch vụ giáo dục, đào tạo và tư vấn thuộc Trường Đại học New South Wales (Australia). ICAS được sử dụng trên 60 quốc gia, cung cấp các bài KT đánh giá hàng năm về các môn Toán, Khoa học, Tiếng Anh, viết và kĩ năng máy tính, cung cấp thông tin chi tiết về mỗi HS, SV, lớp và trường tham gia.
Mối quan hệ giữa kiểm tra và đánh giá Ở Việt Nam, Luật Giáo dục qui định tại Khoản 1, Điều 8 Luật Giáo dục năm 2019 nêu rõ: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực của người học; phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục; phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục; cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp học, mỗi cấp học hoặc các môn học, mô-đun, ngành học đối với từng trình độ đào tạo” Kiểm tra đánh giá trong giáo dục và đào tạo là những khâu rất quan trọng trong quá trình dạy và học. Khoa học về KT ĐG của thế giới đã có bước phát triển mạnh mẽ cả về lí luận lẫn thực tiễn, trong khi ở Việt Nam, ngành GD chỉ mới quan tâm đến vấn đề này trong những năm gần đây. Kiểm tra đánh giá trong giáo dục và đào tạo không chỉ là công cụ cho quản lí chất lượng GD của các cấp quản lí và của GV mà còn là quyền lợi, niềm vui và cơ hội cho người học. Đổi mới kiểm tra đánh giá trong giáo dục và đào tạo theo hướng tiếp cận năng lực HS, SV là một yêu cầu cấp thiết để nâng cao chất lượng GD nói chung và đáp ứng yêu cầu đổi mới.
Một số tiêu chí so sánh giữa Kiểm tra đánh giá trong giáo dục theo hướng tiếp cận nội dung và tiếp cận năng lực HS, SV được nêu ở trên tuy chưa đầy đủ, nhưng có thể góp phần giúp giáo viên, giảng viên (GV) và cán bộ quản lí (CBQL) trường học cải tiến khâu Kiểm tra đánh giá, tạo tác động tích cực cho việc dạy và học, đồng thời thúc đẩy việc đổi mới nội dung chương trình và phương pháp dạy học. Hiện nay có không ít người hiểu nhầm kiểm tra đồng nhất với đánh giá rằng khi người học được kiểm tra - được gán một điểm số nhất định thì đánh giá đã xảy ra. Thật ra, hiểu như thế, mới chỉ là một phần của quá trình đánh giá. Kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục có mối tương quan: kiểm tra là cách thức là công cụ; đánh giá kết quả là mục đích.
Trên thực tế, đánh giá thường được 5 dùng như một hình thức gọi ngắn của thuật ngữ kiểm tra đánh giá. Và nhiều khi từ “đánh giá” được dùng thay thế để chỉ hoạt động kiểm tra. Chức năng của kiểm tra, đánh giá trong giáo dục 1. Chức năng sư phạm Chức năng sư phạm biểu hiện về giáo dục, giáo dưỡng và phát triển thể hiện bản chất nhân bản và tiến bộ của một nền giáo dục.
Kiểm tra, đánh giá tốt người học sẽ làm sáng tỏ đúng thực trạng, định hướng điều chỉnh hoạt động dạy học cho phù hợp đạt kết quả tốt hơn. Thực hiện được chức năng này, kiểm tra đánh giá có thể góp phần hình thành động cơ học tập cho người học và phát triển nhân cách người học một cách toàn diện, cụ thể: Thứ nhất: Động viên kịp thời người học Động viên người học là tạo động lực thúc đẩy học sinh học tập ngày càng hứng thú và hiệu quả hơn. Tâm lý học sư phạm chia động lực thành hai loại chính: động lực bên ngoài (thuộc khách quan), và động lực bên trong (thuộc chủ quan người học). Việc cho đánh giá nhận xét hay xếp hạng, xếp loại học sinh trong đánh giá kết quả học tập được xếp vào loại hoạt động khích lệ, là nhân tố thúc đẩy bên ngoài.
Trên thực tế, việc quá đề cao các biện pháp khích lệ này hoặc áp dụng chúng thái quá sẽ dẫn đến hậu quả về sự nhầm lẫn của kiểm tra đánh giá (Hodgson, 2010). Thứ hai: Góp phần phát triển toàn diện Mục tiêu kiểm tra đánh giá và sự rõ ràng của các chuẩn mực cũng như tiêu chí đánh giá ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng và hiệu quả của việc học tập. Giáo dục và phát triển toàn diện cho người học là mục tiêu hàng đầu.