CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ THỰC HIỆN KIỂM TOÁN TÀI SẢN CỐ ĐỊNH VÀ KHẤU HAO TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 1. Tổng quan về kiểm toán báo cáo tài chính 1. Các khái niệm Để hiểu về khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính, trước tiên chúng ta phải hiểu về khái niệm kiểm toán. Về khái niệm kiểm toán, có khá nhiều định nghĩa khác nhau và hiện định nghĩa được chấp nhận và sử dụng rộng rãi là: “Kiểm toán là quá trình thu thập và đánh giá bằng chứng về những thông tin được kiểm tra nhằm xác định và báo cáo về mức độ phù hợp giữa những thông tin đó với các chuẩn mực đã được thiết lập.
Quá trình kiểm toán phải được thực hiện bởi các KTV đủ năng lực và độc lập.” (Trang 2, Bộ môn Kiểm toán, Khoa Kế toán - Kiểm toán, Trường Đại học Kinh tế thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm toán) Ở định nghĩa này, chúng ta có thể hiểu các thuật ngữ liên quan như sau: Bằng chứng kiểm toán những thông tin nhằm phục vụ và chứng minh cho ý kiến nhận xét của KTV về các thông tin được kiểm tra. Bằng chứng này có thể do các KTV tạo ra ví dụ như là thư xác nhận, biên bản kiểm kê tiền, hàng tồn kho, tài sản cố định,. hoặc cũng có thể là các tài liệu có sẵn của đơn vị. Các thông tin được kiểm tra này rất đa dạng có thể bao gồm các thông tin tài chính, thông tin về hiệu quả hoạt động hoặc mức độ tuân thủ các quy định pháp luật,.
Các chuẩn mực được thiết lập là cơ sở đã được thiết lập nhằm đánh giá các thông tin được kiểm tra. Và tùy theo loại thông tin được kiểm tra, các chuẩn mực được thiết lập này có thể khác nhau có thể là các văn bản pháp luật, các chuẩn mực liên quan,… Năng lực và tính độc lập của KTV: Trước hết, năng lực của KTV có thể hiểu là trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của KTV được hình thành qua kinh nghiệm làm việc được tích lũy hoặc qua các quá trình đào tạo chuyên nghiệp. Đồng thời, tính độc lập thể 4 Sinh viên thực hiện: Trần Đức Vũ Hùng hiện tính khách quan của KTV với đơn vị được kiểm tra để ý kiến của KTV đảm bảo được tính trung thực và khách quan nhất Chính vì yêu cầu, mục đích của các cuộc kiểm toán có thể khác nhau. Do đó, nhiều loại hình kiểm toán khác nhau đã hình thành.
Trong đó có kiểm toán báo cáo tài chính. Trên cơ sở khái niệm kiểm toán, chúng ta có thể hiểu khái niệm kiểm toán báo cáo tài chính như sau: Kiểm toán báo cáo tài chính là quá trình thu thập và đánh giá các bằng chứng kiểm toán về các thông tin được trình bày trên báo cáo tài chính của đơn vị nhằm xác định mức độ phù hợp giữa các thông tin tài chính này với các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán và các văn bản pháp luật liên quan quy định. Trong đó, các thông tin được kiểm tra ở đây cụ thể là các báo cáo tài chính của đơn vị được kiểm toán. Còn chuẩn mực được thiết lập là các chuẩn mực kế toán, chế độ kế toán hiện hành và các văn bản pháp luật liên quan.
Mục tiêu: Theo VSA 200, mục tiêu chung của kiểm toán báo cáo tài chính là “nhằm giúp cho KTV và công ty kiểm toán đưa ra ý kiến xác nhận rằng báo cáo tài chính có được lập trên cơ sở chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành (hoặc được chấp nhận), có tuân thủ pháp luật liên quan và có phản ánh trung thực và hợp lý trên các khía cạnh trọng yếu hay không” Trong đó: - Tính trung thực: Là sự phản ánh một cách đúng sự thật, nội dung, bản chất và giá trị của các nghiệp vụ kinh tế phát sinh của thông tin tài chính và tài liệu kế toán - Tính hợp lý: Là sự phản ánh phù hợp và chính xác về không gian, thời gian sự kiện được nhiều người thừa nhận của thông tin tài chính - Tính hợp pháp: Là việc thông tin tài chính phải được ghi nhận, hạch toán đúng với chuẩn mực và chế độ kế toán hiện hành, đúng theo quy định của Pháp luật 5 Sinh viên thực hiện: Trần Đức Vũ Hùng Bên cạnh đó, kiểm toán báo cáo tài chính còn có một mục tiêu khác đó là giúp cho các đơn vị kiểm toán phát hiện các sai sót, nhằm hoàn thiện hơn trong công tác kế toán của đơn vị. Vai trò Vai trò đảm bảo tính trung thực và hợp lý của thông tin tài chính cho người sử dụng: Người sử dụng ở đây có thể là các cơ quan nhà nước như Ủy ban Chứng khoán, cơ quan thuế; Các nhà đầu tư, hội đồng cổ đông của chính đơn vị được kiểm toán; Các nhà quản trị trong đơn vị; Người lao động của đơn vị; Các khách hàng, các nhà cung cấp của đơn vị được kiểm toán. Mỗi người sử dụng có thể có mục đích riêng nhưng đều có điểm chung là cần tính chính xác, tính trung thực và hợp lý của các thông tin tài chính trên báo cáo tài chính. Nhờ có kiểm toán báo cáo tài chính, tính trung thực, hợp lý và tính chính xác của báo cáo tài chính được đảm bảo, tạo niềm tin cho người sử dụng thông tin tài chính.
Vai trò hoàn thiện, nâng cao hiệu quả công tác kế toán của đơn vị: Thông qua quá trình kiểm toán, KTV sẽ báo cáo lại những sai sót, những yếu điểm trong hệ thống kiểm soát nội bộ với nhà quản lý nhằm giúp cho đơn vị được kiểm toán hoàn thiện và đạt hiệu quả hơn trong công tác kế toán cũng như đối với hệ thống kiểm soát nội bộ. Tổng quan về khoản mục tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định 1. Khái niệm, đặc điểm, tài khoản sử dụng và nguyên tắc ghi nhận nguyên giá tài sản cố định 1. Khái niệm Trong một DN, tài sản cố định là một khoản mục có giá trị lớn, thường chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng tài sản trên BCĐKT.
Tài sản cố định có thể rất đa dạng về hình thức vật chất, về nguồn hình thành, và có thể phân loại tài sản cố định theo các tiêu thức phổ biến như sau: 6 Sinh viên thực hiện: Trần Đức Vũ Hùng - Theo hình thái biểu hiện: tài sản cố định được phân thành tài sản cố định hữu hình và tài sản cố định vô hình. - Theo quyền sở hữu: tài sản cố định được phân thành tài sản cố định tự có và tài sản cố định thuê ngoài. - Theo hình thái biểu hiện kết hợp với tính chất sở hữu: tài sản cố định được phân thành tài sản cố định hữu hình, tài sản cố định vô hình, tài sản cố định thuê tài chính tài sản cố định thuê hoạt động. Đây là cách phân loại được trình bày trên BCĐKT Tài sản cố định hữu hình: Theo thông tư 45/2013/TT-BTC, tài sản cố định hữu hình được định nghĩa như sau “là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định hữu hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị, phương tiện vận tải.” Tài sản cố định vô hình: Theo thông tư 45/2013/TT-BTC, tài sản cố định vô hình được định nghĩa như sau “là những tài sản không có hình thái vật chất, thể hiện một lượng giá trị đã được đầu tư thoả mãn các tiêu chuẩn của tài sản cố định vô hình, tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh, như một số chi phí liên quan trực tiếp tới đất sử dụng; chi phí về quyền phát hành, bằng phát minh, bằng sáng chế, bản quyền tác giả.
Đặc điểm: Theo thông tư 45/2013/TT-BTC, các tài sản cố định đều phải thỏa mãn 3 tiêu chuẩn sau: - Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài sản đó; - Có thời gian sử dụng trên 1 năm trở lên; - Nguyên giá tài sản phải được xác định một cách tin cậy và có giá trị từ 30.000 đồng (Ba mươi triệu đồng) trở lên Theo đó, có thể hiểu tài sản cố định là những tài sản có giá trị lớn và thời gian sử dụng lâu dài, nên có đặc điểm là tham gia vào nhiều chu kì sản xuất kinh doanh. Trong 7 Sinh viên thực hiện: Trần Đức Vũ Hùng thời gian sử dụng tài sản cố định bị hao mòn dần và giá trị của nó được dịch chuyển dần vào chi phí hoạt động và sẽ được thu hồi khi bán hàng hóa, dịch vụ. Tài sản cố định là khoản mục có giá trị lớn, thường chiếm tỷ trọng đáng kể so với tổng tài sản trên BCĐKT. Tuy nhiên, kiểm toán tài sản cố định thường không chiếm nhiều thời gian vì: - Số lượng tài sản cố định thường không nhiều và phân theo từng nhóm đối tượng có giá trị lớn.
- Số lượng nghiệp vụ tăng, giảm tài sản cố định trong năm thường không nhiều. - Vấn đề khóa sổ cuối năm không phức tạp như tài sản ngắn hạn do khả năng nhầm lẫn trong ghi nhận các nghiệp vụ về tài sản cố định giữa niên độ thường không cao. Tài khoản sử dụng Theo Hệ thống tài khoản Việt Nam ban hành theo Quyết định số 15/2006/QĐ- BTC của Bộ tài chính, tài sản cố định được hạch toán các tài khoản sau: Tài khoản 211 - Tài sản cố định hữu hình: Phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm tài sản cố định hữu hình theo nguyên giá. TK này có 6 TK chi tiết cấp 2: - TK 2111 - Nhà cửa, vật kiến trúc - TK 2112 - Máy móc, thiết bị; - TK 2113 - Phương tiện vận tải, truyền dẫn; - TK 2114 - Thiết bị, dụng cụ quản lý; - TK 2115 - Cây lâu năm, súc vật làm việc và cho sản phẩm; - TK 2118 - Tài sản cố định hữu hình khác.
Tài khoản 213 - tài sản cố định thuê vô hình: Phản ánh giá trị hiện có và tình hình biến động tăng, giảm nguyên giá tài sản cố định vô hình. Tài khoản này có 7 tài khoản chi tiết cấp 2: - TK 2131 - Quyền sử dụng đất; 8 Sinh viên thực hiện: Trần Đức Vũ Hùng - TK 2132 - Quyền phát hành; - TK 2133 - Bản quyền, bằng sáng chế; - TK 2134 - Nhãn hiệu hàng hoá; - TK 2135 - Phần mềm máy vi tính; - TK 2136 - Giấy phép và giấy phép nhượng quyền; - TK 2138 - Tài sản cố định vô hình khác.