chương 1 xác định đối tượng và phạm vi cần nghiên cứu và phương pháp nghiên cứu khóa luận để xây dựng kết cấu của khóa luận Qua đó, tác giả xác định mục tiêu nghiên cứu bài viết và câu hỏi nghiên cứu là tập trung vào quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ trong quy trình kiểm toán BCTC tại RSM Việt Nam và đưa ra giải pháp hoàn thiện quy trình. Chương 2 tiếp theo đi sâu vào trình bày tổng quan các nghiên cứu trước và sơ lược cơ sở lý luận về khoản mục TSCĐ. TỔNG QUAN CÁC NGHIÊN CỨU TRƯỚC VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TOÁN KHOẢN MỤC TÀI SẢN CỐ ĐỊNH 2. Tổng quan các nghiên cứu trước về quy trình kiểm toán TSCĐ Trên thế giới Với đề tài “Fixed Assets Account Audit Procedures at the YG Community Health Center”, tạm dịch là “Quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ tại Trung tâm Y tế cộng đồng YG” được hai tác giả Fadila & Diah Hari Suryaningrum (2023) sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp, cụ thể ở đây là BCTC của trung tâm y tế YG.
Trong nghiên cứu này, hai tác giả đã sử dụng phương pháp phân tích dữ liệu, đó là phương pháp định tính mô tả. Phương pháp định tính này nhằm mục đích hiểu sâu hơn về các sự kiện được nghiên cứu chính xác trong quy trình kiểm toán Tài sản cố định tại Trung tâm Y tế YG. Mục đích của bài nghiên cứu này là làm rõ những thủ tục và quy trình kiểm toán TSCĐ. Trong quá trình kiểm toán khoản mục này, tác giả đã chỉ ra được sự nhầm lẫn của kế toán đến từ việc phân loại dài hạn và ngắn hạn của tài sản.
Kết quả của bài nghiên cứu đã góp phần chỉ ra được ưu và nhược điểm còn tồn tại trong quá trình kiểm toán TSCĐ tại trung tâm. Theo bài nghiên cứu “Audit Of Fixed Assets Of The Enterprise: Organizational And Methodological Aspect” được thực hiện bởi Chuchkevych D., Pylypenko O, & Cộng sự (2020). Mục đích chính của bài viết là nghiên cứu TSCĐ về việc trình bày những vấn đề cơ bản về bản chất lý thuyết và thực tiễn của cuộc kiểm toán tài sản cố định, trình tự các thủ tục kiểm toán và phương pháp kiểm toán tài sản cố định. Nghiên cứu đã đề cập đến mục tiêu kiểm toán TSCĐ và quy trình thông qua 3 giai đoạn: chuẩn bị kiểm toán, thực hiện kiểm toán và giai đoạn kết thúc kiểm toán.
Kết luận của tác giả rút ra đó chính là Công ty còn nhiều thiếu sót ở .giai đoạn lập kế hoạch chưa được chặt chẽ và hạn chế về thông tin khách hàng. Và từ đó nghiên cứu đã đưa ra một số đề xuất, kiến nghị nhằm hoàn thiện quy trình TSCĐ cụ thể: hoàn thiện chương trình kiểm toán, đặc biệt là giai đoạn lập kế hoạch và cải thiện khả năng quản lý thời gian để có thể thu thập đầy đủ và toàn diện về thông tin khách hàng. 8 Theo bài nghiên cứu “Reflections on risks in fixed assets audit” được thực hiện bởi tác giả POPOVICI,M. Mục đích chính của bài viết tập trung vào việc phân tích và giải quyết các khía cạnh liên quan đến sai sót trong quá trình kiểm toán về TSCĐ HH.
Trong bài viết, tác giả đã đề cập về việc kiểm toán không thể đảm bảo ý kiến của mình hoàn toàn là khách quan, sẽ luôn luôn tồn tại một rủi ro nhất định. Trong nghiên cứu này, tác giả đã sử dụng dữ liệu sơ cấp để phân tích quy trình kiểm toán và kết hợp với phương pháp định tính nhằm phát hiện và nêu ra được các rủi ro có thể phát sinh trong kiểm toán khoản mục này. Từ đó, tác giả đề xuất những đóng góp kiến thức và giải pháp để quản trị rủi ro kiểm toán khoản mục TSCĐ. Tại Việt Nam Với bài khóa luận tốt nghiệp “Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định nghiên cứu trường hợp tại Công ty kiểm toán ERNST & YOUNG” của tác giả Bùi Thanh Kim Ngân (2018).
Chủ đề nghiên cứu được phát triển thông qua việc khảo sát các hồ sơ kiểm toán thực tế mà tác giả thu thập được ở đơn vị thực , thông qua đó tác giả đã so sánh quy trình kiểm toán của EY đối với hai khách hàng khác nhau về quy mô kinh doanh. Hơn thế nữa, tác giả còn thực hiện tiến hành thu thập dữ liệu và khảo sát, phỏng vấn các nhóm kiểm toán viên. Dựa trên cơ sở đó, tác giả đã đưa ra những đánh giá khách quan về quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ. Cuối cùng, tác giả kết luận bằng việc chỉ ra các giải pháp phù hợp nhằm cải thiện quy trình tại đơn vị.
Chủ đề “Quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định và chi phí khấu hao tài sản cố định trong kiểm toán báo cáo tài chính - Trường hợp Chi nhánh Công ty TNHH Deloitte Việt Nam” được thực hiện bởi tác giả Tô Thị Hoàng Lộc (2022). Bài nghiên cứu chủ yếu tập trung về cơ sở lý thuyết cũng như thực trạng kiểm toán khoản mục TSCĐ tại Deloitte Việt Nam. Thông qua sự kết hợp giữa các phương pháp quan sát, phân tích và thực hiện phỏng vấn đối với nhóm kiểm toán viên, tác giả đã đưa ra những ưu điểm và hạn chế cần cải thiện để nâng cao hiệu suất kiểm toán. Ngoài ra, để thuyết phục hơn về những nhược điểm đó bài viết đã thực hiện 9 việc so sánh, đưa ra những điểm khác biệt giữa quy định về kiểm toán khoản mục TSCĐ của Công ty trong quá trình kiểm toán thực tế.
Trong bài khóa luận “ Kiểm toán tài sản cố định và khấu hao tài sản cố định tại Công ty TNHH kiểm toán BDO Việt Nam” của Nguyễn Thị Thảo Nhi (2022). Tác giả sử dụng phương pháp nghiên cứu định tính thông qua bảng câu hỏi khảo sát các kiểm toán viên tại đơn vị và đánh giá thực tế các hồ sơ kiểm toán. Từ đó đánh giá được ưu điểm và hạn chế trong quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ và khấu hao TSCĐ của Công ty TNHH Kiểm toán BDO Việt Nam. Dựa trên những phân tích này, tác giả đề xuất một số giải pháp, bao gồm việc thiết lập phần mềm hỗ trợ cho kiểm toán viên, thực hiện đánh giá lại hệ thống kiểm soát nội bộ với khách hàng cũ, tăng cường thủ tục phân tích, và nâng cao tiêu chí tuyển dụng hoặc kiến thức của các kiểm toán viên trong nhóm.
Từ những giải pháp tác giả đề cập đã giúp doanh nghiệp cải thiện được thực trạng kiểm toán TSCĐ tại công ty, hơn thế nữa còn giúp cho chất lượng công tác kiểm toán khoản mục TSCĐ tại Việt Nam ngày một nâng cao uy tín và gia tăng sự tin tưởng đối với khách hàng. Từ những bài nghiên cứu trên, tác giả nhận thấy rằng ở mỗi Công ty, doanh nghiệp đều sẽ có những ưu và nhược điểm khác nhau trong quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ. Bên cạnh đó, có thể thấy được những góc nhìn đa dạng từ các bài nghiên cứu khi so sánh giữa lý thuyết và thực tế quy trình tại các Công ty kiểm toán khác nhau. Qua đó, mỗi bài viết đều sẽ được tác giả đưa ra đề xuất, giải pháp phù hợp nhất với tình hình thực tế cho đơn vị.
Kế thừa từ những nghiên cứu trước cùng với việc tham gia quy trình kiểm toán thực tế cùng với những kiến thức đã tích lũy được sau ba tháng thực tập tại Công ty TNHH Kiểm toán & Tư vấn RSM Việt Nam, tác giả đã tiến hành nghiên cứu quy trình kiểm toán khoản mục tài sản cố định dựa trên các thông tin và số liệu thực tế được thu thập. Mục đích của bài viết này nhằm hệ thống hóa cơ sở lý thuyết về quy trình kiểm toán khoản mục TSCĐ, đánh giá ưu điểm và hạn chế của quy trình kiểm toán hiện đang áp dụng tại công ty. Từ đó, đưa ra đánh giá về quy trình hiện 10 có và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần hoàn thiện quy trình kiểm toán TSCĐ tại RSM Việt Nam. Tổng quan về khoản mục TSCĐ và CPKH 2.
Khái niệm và đặc điểm của TSCĐ và CPKH 2. Khái niệm và đặc điểm của TSCĐ TSCĐ nằm trên Bảng cân đối kế toán tại phần B, mục Tài sản dài hạn, chủ yếu bao gồm tài sản cố định hữu hình, vô hình và tài sản thuê tài chính. “Tài sản cố định hữu hình là những tài sản có hình thái vật chất do doanh nghiệp nắm giữ dễ sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định hữu hình (Theo Đoạn 05, VAS 03- Tài sản cố định hữu hình).” “Tài sản cố định vô hình là những tài sản có hình thái vật chất nhưng xác định được giá trị do doanh nghiệp nắm giữ để sử dụng cho hoạt động sản xuất, kinh doanh, cung cấp dịch vụ hoặc cho các đối tượng khác thuê phù hợp với tiêu chuẩn ghi nhận tài sản cố định vô hình (Theo Đoạn 06, VAS 04- Tài sản cố định vô hình).” “Tài sản cố định thuê tài chính là những TSCĐ đi thuê mà bên cho thuê có sự chuyển giao phần lớn lợi ích và rủi ro gắn liền với quyền sở hữu tài sản này cho bên đi thuê. Vào thời điểm cuối thời hạn thuê, quyền sở hữu tài sản có thể được chuyển giao ( Khoản 3 Điều 2 Thông tư 45/2013/TT-BTC)” TSCĐ và CPKH là các khoản mục có giá trị khá lớn và thường chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng tài sản trên BCĐKT, đặc biệt là đối với các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh thuộc lĩnh vực công nghiệp nặng, hàng không, khai thác tài nguyên khoáng sản.
Mặc dù chiếm tỷ trọng cao nhưng việc kiểm toán khoản mục TSCĐ thường ít gặp khó khăn vì: - Số lượng TSCĐ mua mới hoặc bán thường ít hơn so với các tài sản khác vì giá trị của TSCĐ khá cao. Điều này dẫn đến nghiệp vụ diễn ra trong năm liên quan liên quan đến TSCĐ thường diễn ra không nhiều và không phức tạp. 11 - Vào thời điểm cuối năm tài chính, việc chốt sổ TSCĐ không khó khăn do khả năng xảy ra sai sót hay gian lận trong việc ghi chép các nghiệp vụ về TSCĐ giữa các kỳ kế toán thường không cao. Khái niệm và đặc điểm của CPKH “ Khấu hao tài sản cố định là việc tính toán và phân bổ một cách có hệ thống nguyên giá của tài sản cố định vào chi phí sản xuất, kinh doanh trong thời gian trích khấu hao của tài sản cố định.