Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LÝ TRONG THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH 1. Khái niệm, đặc điểm của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính 1. Khái niệm kiểm soát thủ tục hành chính Xác định được tầm quan trọng của TTHC, quy định pháp luật về TTHC, xác định đây là nhiệm vụ cần được ưu tiên triển khai, từ đó Chính phủ ban hành Nghị quyết số 38/NQ-CP ngày 04/5/1994 về cải cách một bước TTHC trong giải quyết công việc của công dân và tổ chức [10, tr. Đặc biệt, giai đoạn 2007 - 2010, thực hiện Đề án đơn giản hoá TTHC trên các lĩnh vực quản lý của Nhà nước được Thủ tướng Chính phủ ban hành kèm theo Quyết định số 30/QĐ-TTg ngày 10/01/2007 (Đề án 30), đây là điểm nhấn quan trọng của quá trình cải cách TTHC của Chính phủ, là giai đoạn “then chốt” của tổ chức và hoạt động kiểm soát TTHC [33, tr.
Để tiếp tục duy trì, phát huy các kết quả của kiểm soát TTHC, ngày 08/6/2010, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 63/2010/NĐ-CP về kiểm soát TTHC [6, tr. 3], qua đó xác định kiểm soát TTHC thành một nhiệm vụ quản lý nhà nước được thực hiện từ khâu dự thảo, đến khâu ban hành và tổ chức thực hiện trên thực tế. Từ những phân tích và quy định trên Kiểm soát TTHC được khái niệm như sau: “Kiểm soát TTHC là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện thủ tục hành chính”. Khái niệm pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính Kiểm soát TTHC có vai trò quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước, thực hiện công tác kiểm soát TTHC hiệu quả nhằm kiểm soát chặt chẽ những quy định trong thực hiện TTHC có liên quan đến đời sống chính trị, kinh tế - xã hội của người dân, doanh nghiệp, góp phần hoàn thành các 8 chỉ tiêu kế hoạch công tác của mỗi cơ quan, đơn vị xây dựng một nền hành chính chuyên nghiệp, hiện đại.
Dưới góc độ khoa học pháp lý, đối tượng chính của pháp luật về kiểm soát TTHC cần quan tâm ở đây là trình tự, cách thức kiểm soat TTHC. Đây là cơ sở hình thành các mối quan hệ xã hội được điều chỉnh bởi pháp luật về kiểm soát TTHC. Mục đích là phát huy hiệu quả trong kiểm soát TTHC, cũng như để phục vụ nhu cầu quản lý nhà nước, đời sống, xã hội cho cơ quan, tổ chức, người dân, doanh nghiệp. Là một trong những lĩnh vực hoạt động xã hội, mọi hoạt động liên quan đến kiểm soát TTHC điều tiến hành theo một cách thức, trình tự nhất định.
Do đó, cần phải có nhiều văn bản quy phạm quy định về kiểm soát TTHC để xác lập cơ sở pháp lý cho hoạt động kiểm soát TTHC. Trên cơ sở lý luận chung về pháp luật, về hệ thống pháp luật, trực tiếp là khái niệm về kiểm soát TTHC có thể hiểu: “Pháp luật về kiểm soát TTHC là tổng hợp các quy phạm pháp luật do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định ban hành theo trình tự, thủ tục, hình thức luật định, điều chỉnh các quan hệ sinh ra trong thực hiện hoạt động quản lý nhà nước về kiểm soát TTHC nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về thủ tục hành chính, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện pháp luật kiểm soát TTHC, được thực hiện nghiêm minh và thống nhất” 1. Đặc điểm của pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính Pháp luật về kiểm soát TTHC có những đặc điểm quan trọng nhằm đảm bảo hiệu quả trong việc giải quyết các yêu cầu hành chính của công dân, đồng thời thúc đẩy cải cách TTHC trong các cơ quan nhà nước, cụ thể một số đặc điểm của pháp luật về kiểm soát TTHC như sau: Bảo vệ quyền lợi hợp pháp của người dân, doanh nghiệp khi tham gia vào thực hiện các TTHC: Giúp người dân, doanh nghiệp được đối xử công 9 bằng, không bị phân biệt đối xử trong các quá trình thực hiện, đồng thời đảm bảo các quyền lợi của họ không bị vi phạm. Mục tiêu tối giản và cải thiện TTHC: Là hướng đến việc cải thiện, giảm bớt TTHC phức tạp, tạo thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ hành chính.
Điều này giúp tiết kiệm thời gian và chi phí cho người dân, doanh nghiệp. Tăng cường tính minh bạch và công khai thông tin: Pháp luật yêu cầu các TTHC phải được công khai minh bạch, để người dân, doanh nghiệp dễ dàng tra cứu thông tin và thực hiện quyền của mình. Kiểm tra và giám sát hoạt động hành chính: Pháp luật kiểm soát TTHC không chỉ đặt ra các TTHC mà còn yêu cầu việc kiểm tra, giám sát liên tục các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các thủ tục đó. Tạo cơ chế phản ánh, kiến nghị: Pháp luật về kiểm soát TTHC cũng bao gồm cơ chế phản ánh, kiến nghị để người dân, doanh nghiệp có thể phản ánh nếu gặp phải những hành vi sai trái hoặc xử lý không đúng TTHC của cơ quan nhà nước.
Đảm bảo tính ổn định và pháp lý: Pháp luật kiểm soát TTHC phải đảm bảo tính ổn định và sự tuân thủ nghiêm túc các quy định của pháp luật trong mọi TTHC. Tính hệ thống và đồng bộ: Pháp luật kiểm soát TTHC phải được xây dựng một cách hệ thống và đồng bộ, đảm bảo tất cả các TTHC đều phù hợp với các quy định pháp lý khác, không gây mâu thuẫn hoặc thiếu nhất quán. Khái niệm, đặc điểm, vai trò của thực hiện pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính 1. Khái niệm thực hiện pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính Thực hiện pháp luật là nội dung quan trọng của cơ chế điều chỉnh pháp luật và của lý luận về nhà nước và pháp luật.
10 Thực hiện pháp luật là các hoạt động của chủ thể thực hiện pháp luật nhằm đạt được mục đích hiện thực hoá các quy định pháp luật trong thực tế đời sống - xã hội nhất định. Qua đó làm được rõ được những hạn chế, bất cập của hệ thống pháp luật hiện hành. Trên cơ sở những đặc điểm, nội dung của pháp luật về kiểm soát TTHC có thể khái niệm việc thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC như sau: “Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC là quá trình các cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền kiểm soát TTHC tiến hành các hành vi cụ thể, hợp pháp, phù hợp với nội dung, yêu cầu của các QPPL về kiểm soát TTHC khi thực hiện nhiệm vụ nhằm đáp ứng yêu cầu quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cá nhân”. Đặc điểm thực hiện pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC bao gồm một số đặc điểm như sau: Một là, minh bạch và công khai thông tin: Việc thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC yêu cầu các cơ quan chức năng đảm bảo thông tin về các TTHC phải rõ ràng, công khai và dễ hiểu, để người dân, doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận và thực hiện đúng các quy định.
Hai là, tính chặt chẽ trong quy trình: Các TTHC cần phải có một hệ thống quy trình rõ ràng, hợp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện một cách chính xác, có hệ thống và đúng pháp luật. Ba là, chủ động và phòng ngừa sai sót: Kiểm soát TTHC không chỉ dừng lại ở việc phát hiện sai sót mà còn phải chủ động phòng ngừa trước khi sai phạm xảy ra. Các cơ quan cần có các biện pháp hỗ trợ, hướng dẫn để người dân , doanh nghiệp thực hiện đúng quy trình ngay từ đầu, tránh gây ra những vấn đề phát sinh. Bốn là, trách nhiệm và minh bạch của các cơ quan hành chính: Các cơ quan hành chính có nghĩa vụ thực hiện đúng và đầy đủ các TTHC, đồng thời phải chịu trách nhiệm nếu có vi phạm.
Mọi hành động phải được thực 11 hiện một cách công khai và minh bạch để không xảy ra tình trạng lạm dụng quyền lực. Năm là, tính hợp tác giữa các cơ quan nhà nước: Kiểm soát TTHC yêu cầu sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, tổ chức liên quan để đảm bảo quy trình hành chính được thực hiện một cách thống nhất. Mỗi cơ quan có nhiệm vụ giám sát và thực hiện thủ tục hành chính trong lĩnh vực của mình một cách hiệu quả và đồng bộ. Sáu là, khả năng điều chỉnh linh hoạt khi cần thiết: Trong thực hiện kiểm soát TTHC, nếu có sự thay đổi về pháp luật hoặc nhu cầu thực tế, các TTHC có thể được điều chỉnh một cách linh hoạt và kịp thời để đáp ứng tình hình mới.
Bảy là, bảo vệ quyền lợi hợp pháp của công dân và tổ chức: Việc thực hiện kiểm soát TTHC còn nhằm mục đích bảo vệ quyền lợi của người dân, doanh nghiệp. Các TTHC phải được thực hiện công bằng, không gây phiền hà và bảo vệ lợi ích hợp pháp của những người tham gia. Vai trò thực hiện pháp luật về kiểm soát thủ tục hành chính Thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC nói riêng và thực hiện pháp luật trong cải cách TTHC nói chung có hiệu quả mang lại lợi ích trực tiếp cho cá nhân, tổ chức, nhưng đồng thời không để sơ hở trong công tác quản lý nhà nước và cũng là một trong những hoạt động của cơ quan giải quyết TTHC đóng vai trò rất quan trọng trong việc cải cách TTHC nói riêng và cải cách hành chính nói chung. Vai trò của thực hiện pháp luật về kiểm soát TTHC được biểu hiện qua những khía cạnh cơ bản như sau: Kiểm soát TTHC góp phần tạo môi trường bình đẳng, minh bạch, thuận lợi, thông thoáng cho người dân và doanh nghiệp: Lấy nguyện vọng người dân, doanh nghiệp để làm mục tiêu hoạt động, mọi hoạt động luôn hướng đến nhiệm vụ phục vụ lợi ích cơ bản của đa số người dân, doanh nghiệp để hướng đến những mục tiêu 12 nhân văn có lợi ích cho sự phát triển kinh tế - xã hội.
Từ đó kiểm soát TTHC phải được kiểm soát như thế nào cho phù hợp với yêu cầu quản lý nhà nước hiện nay. Kiểm soát TTHC góp phần đơn giản hóa các TTHC, tạo thuận lợi và giảm chi phí cho người dân, doanh nghiệp khi thực hiện TTHC.