phần mở đầu, kết luận, Luận văn bao gồm 3 chương: Chƣơng 1. Một số vấn đề lý luận về kiểm soát thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền của chính quyền địa phƣơng Chƣơng 2. Thực trạng kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn thành phố Hải Phòng Chƣơng 3. Quan điểm và Giải pháp bảo đảm thực hiện kiểm soát thủ tục hành chính từ thực tiễn thành phố Hải Phòng 6 Chƣơng 1.
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT THỦ TỤC HÀNH CHÍNH THUỘC THẨM QUYỀN CỦA CHÍNH QUYỀN ĐỊA PHƢƠNG 1. Khái niệm chính quyền địa phƣơng Ở nước ta từ trước đến nay, thuật ngữ “ chính quyền địa phương” được sử dụng tương đối rộng rãi và phổ biến trong các văn kiện của Đảng, các văn bản pháp luật của Nhà nước, các sách báo chính trị pháp lý, cũng như các bài phát biểu của Lãnh đạo Đảng và Nhà nước ở trung ương và địa phương. Về mặt pháp lý, chính quyền địa phương được quy định cụ thể tại Hiến pháp năm 2013 và Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Theo quy định tại Điều 111 Hiến pháp năm 2013: “Chính quyền địa phương được tổ chức ở các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
Cấp chính quyền địa phương gồm có Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật quy định.” Theo quy định tại Khoản 1 Điều 4 Luật tổ chức CQĐP năm 2015: “Cấp CQĐP gồm có HĐND và UBND được tổ chức ở tất cả các đơn vị hành chính của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam quy định tại Điều 2 của Luật này”. Như vậy, Hiến pháp năm 2013 và Luật tổ chức CQĐP đã chỉ rõ: Chính quyền địa phương, về cơ bản bao gồm 2 cơ quan: Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, trong đó: - Hội đồng nhân dân là cơ quan quyền lực nhà nước ở địa phương, đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của nhân dân địa phương, do nhân dân địa phương bầu ra, chịu trách nhiệm trước nhân dân địa phương và cơ quan nhà nước cấp trên. 7 - Ủy ban nhân dân ở cấp chính quyền địa phương do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu là cơ quan chấp hành của Hội đồng nhân dân, cơ quan hành chính nhà nước ở địa phương, chịu trách nhiệm trước Hội đồng nhân dân và cơ quan hành chính nhà nước cấp trên. - Tuy nhiên, Hiến pháp đã nêu rõ: cấp chính quyền địa phương được tổ chức phù hợp với đặc điểm nông thôn, đô thị, hải đảo, đơn vị hành chính - kinh tế đặc biệt do luật định.
Điều đó có nghĩa là, ở đâu được coi là cấp chính quyền thì chính quyền ở đó bao gồm Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân, còn ở đâu không được coi là cấp chính quyền thì sẽ có cơ quan hành chính thực hiện nhiệm vụ quản lý hành chính và dịch vụ công tại địa bàn. Với cách quy định này, Hiến pháp đã mở ra những khả năng đổi mới một bước quan trọng trong tổ chức chính quyền địa phương trên cơ sở kế thừa kết quả thí điểm không tổ chức Hội đồng nhân dân quận, huyện, phường theo tinh thần Nghị quyết số 26 của Quốc hội và thí điểm tổ chức chính quyền đô thị tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian vừa qua. Khái niệm thủ tục hành chính Dưới góc độ quản lý nhà nước nói chung, TTHC là công cụ, phương tiện quan trọng để các cơ quan hành chính thực hiện việc quản lý đối với từng ngành, lĩnh vực cụ thể. Còn dưới góc độ xã hội, TTHC là cầu nối để chuyển tải nhiều quy định cụ thể về chính sách của Nhà nước trong các văn bản pháp luật đi vào cuộc sống, đảm bảo cho người dân, tổ chức tiếp cận và thực hiện chính sách, trong đó cơ bản và chủ yếu là các quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của công dân, tổ chức.
Với nghĩa chung nhất, thủ tục (procédure) là cách thức, các bước giải quyết công việc theo một trình tự, nguyên tắc nhất định, gồm một loạt công đoạn liên quan chặt chẽ với nhau nhằm đạt được một mục đích nào đó [11]. TTHC, trước hết cũng có nghĩa là thủ tục nhưng khác với các thủ tục khác ở chỗ đây là những thủ tục được đặt ra để giải quyết những việc phát sinh 8 từ hoạt động quản lý hành chính, chủ yếu do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện. Hiện nay, có tương đối nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm TTHC nhưng nhìn chung đều thống nhất rằng TTHC là những quy định, quy phạm mang tính hình thức (quy trình, cách thức,.) để phục vụ cho các quy phạm mang tính nội dung (quy định về nội dung chính sách, các quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức, cơ quan nhà nước…) [13, tr11 -20]. Trong đề tài này, khái niệm TTHC được tiếp cận theo các quy định hiện nay của pháp luật thực định, cụ thể là Nghị định 63/2010/NĐ-CP ngày 08/6/2010 của Chính phủ về kiểm soát TTHC (Nghị định 63/2010/NĐ-CP).
Theo đó, “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” (khoản 1 Điều 3 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP). Quy định nêu trên có tính khái quát hóa cao về TTHC. Trên cơ sở giải thích đó, tại khoản 2 Điều 8 Nghị định số 63/2010/NĐ-CP quy định: một TTHC phải có 08 (tám) bộ phận tạo thành bắt buộc và ba (03) bộ phận tạo thành không bắt buộc. Cụ thể gồm: - Tên thủ tục; - Hồ sơ của thủ tục; - Trình tự thực hiện; - Cách thức thực hiện; - Thời hạn giải quyết; - Đối tượng thực hiện; - Cơ quan có thẩm quyền giải quyết; - Kết quả của thủ tục; 9 - Yêu cầu, điều kiện (nếu có); - Mẫu đơn, tờ khai (nếu có); - Phí, lệ phí (nếu có).
Khái niệm, đặc điểm của kiểm soát thủ tục hành chính Quan niệm về kiểm soát: từ “kiểm soát” trong từ điển Tiếng Việt của viện ngôn ngữ được hiểu là “xem xét để phát hiện, ngăn chặn những gì trái với quy định” [11, tr. Kiểm soát là một hoạt động mang tính quyền lực. Tính quyền lực của kiểm soát thể hiện ở chỗ người thực hiện hoạt động kiểm soát có thể xem xét, đánh giá hành vi của một tổ chức, cá nhân là có phù hợp với quy định của cơ quan, đơn vị hay không và có quyền xử lý, kiến nghị xử lý các hành vi vi phạm theo quy định. Nếu căn cứ vào đối tượng chịu sự kiểm soát thì kiểm soát được phân thành 2 nhóm: - Kiểm soát đối với các cá nhân, tổ chức xã hội.
- Kiểm soát đối với các cá nhân, tổ chức nhà nước. Căn cứ vào chủ thể, hoạt động kiểm soát được phân thành: - Kiểm soát của các cơ quan nhà nước. - Kiểm soát của người có thẩm quyền của cơ quan nhà nước. - Kiểm soát của các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị - xã hội, tổ chức xã hội [15, tr.
Kiểm soát TTHC là một lĩnh vực mới, chưa có nhiều tác giả nghiên cứu, tìm hiểu. Vì vậy, khái niệm kiểm soát TTHC vẫn còn chưa được hiểu thống nhất. Dưới góc độ nội dung của hoạt động này, kiểm soát TTHC được xem là “một quy trình bắt đầu từ việc đánh giá tác động các quy định TTHC trong quá trình dự thảo, do các cơ quan chủ trì soạn thảo văn bản QPPL thực hiện; gửi lấy 10 ý kiến đơn vị kiểm soát TTHC; công khai, minh bạch TTHC sau khi ban hành; kiểm soát việc thực thi TTHC trong thực tiễn; và tiếp nhận, xử lý các PAKN của tổ chức, cá nhân về các quy định TTHC nhằm phát hiện và giải quyết những bất cập của các quy định hành chính, cũng như giám sát việc thực thi TTHC của đội ngũ CBCC” [18]. Kiểm soát TTHC còn được hiểu là việc xem xét, đánh giá, theo dõi nhằm bảo đảm tính khả thi của quy định về TTHC, đáp ứng yêu cầu công khai, minh bạch trong quá trình tổ chức thực hiện TTHC, nhằm kịp thời phát hiện để loại bỏ hoặc chỉnh sửa TTHC không phù hợp, phức tạp, phiền hà; sửa đổi, bổ sung TTHC không cần thiết, đáp ứng nhu cầu thực tế; bảo đảm quy định TTHC đơn giản, dễ hiểu, dễ thực hiện, tiết kiệm thời gian, chi phí, công sức của đối tượng tuân thủ và cơ quan thực hiện TTHC [19].
Như vậy, kiểm soát TTHC cũng có thể hiểu tương tự là hoạt động được thực hiện nhằm ngăn ngừa, phát hiện những sai phạm trong quá trình xây dựng, thực hiện TTHC, nên cần thống nhất về khái niệm kiểm soát TTHC như sau: “Kiểm soát TTHC là hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền được thực hiện nhằm ngăn ngừa, phát hiện những sai phạm trong quá trình xây dựng, thực hiện TTHC”. Đặc điểm của kiểm soát TTHC: Thứ nhất: Hoạt động kiểm soát TTHC được thực hiện bởi các cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền từ trung ương đến địa phương, được xây dựng thành một hệ thống đồng bộ, có mối liên hệ chặt chẽ. Thứ hai: Hoạt động kiểm soát TTHC là hoạt động mang tính chuyên môn, nghiệp vụ cao, được thực hiện theo một quy trình chặt chẽ, từ khâu soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật cho đến việc tổ chức thực hiện, rà soát, đánh giá thủ tục hành chính và kiểm tra việc thực hiện kiểm soát TTHC. 11 Thứ ba: Hoạt động kiểm soát TTHC được thực hiện một cách rộng rãi, trên tất cả các lĩnh vực của quản lý nhà nước, là một hoạt động thường xuyên liên tục để kịp thời ngăn ngừa, phát hiện những sai phạm trong quá trình xây dựng, thực hiện TTHC.
Thứ tư: Kiểm soát TTHC là nhiệm vụ trực tiếp, cụ thể, thiết thực, có hiệu quả, góp phần đảm bảo thực hiện nhiệm vụ, mục tiêu về cải cách TTHC. Trong đó nhiệm vụ trọng tâm được Chính phủ đề ra trong giai đoạn hiện nay là: “cắt giảm và nâng cao chất lượng thủ tục hành chính ở tất cả các lĩnh vực quản lý nhà nước, nhất là TTHC liên quan tới người dân, doanh nghiệp”; từ đó góp phần hoàn thiện và nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật, bảo đảm thực hiện quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, tổ chức và doanh nghiệp; nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy hành chính nhà nước trong bối cảnh chủ động hội nhập quốc tế.