CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NGƯỜI DÂN VỀ DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 1. Khái quát về dịch vụ hành chính công 1. Khái niệm, đặc điểm, phân loại dịch vụ công 1. Khái niệm dịch vụ công Tùy theo bối cảnh và nhu cầu cụ thể, khái niệm và phạm vi của dịch vụ công có thể thay đổi để phù hợp với từng trường hợp.
Ở Pháp, dịch vụ công được định nghĩa một cách rộng lớn, không chỉ bao gồm các hoạt động phục vụ nhu cầu tinh thần và sức khỏe như giáo dục, văn hóa, y tế, thể thao (thường được gọi là hoạt động sự nghiệp), mà còn cả các dịch vụ mang tính công nghiệp như cung cấp điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường (được xem là hoạt động công ích). Điều này cũng bao gồm các dịch vụ hành chính như cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch, cũng như các hoạt động liên quan đến thuế vụ, trật tự, an ninh, và quốc phòng. Ở Italia, dịch vụ công chủ yếu tập trung vào hoạt động sự nghiệp như y tế và giáo dục, cùng với các dịch vụ kinh tế công ích như cung cấp điện, nước sạch, và vệ sinh môi trường, bên cạnh các hoạt động hành chính cơ bản do cơ quan nhà nước thực hiện. [8, tr 12 -13] Theo Điều 39 của Luật Tổ chức chính phủ (2015), các “Bộ và cơ quan ngang bộ là cơ quan của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về các ngành, lĩnh vực và dịch vụ công trong phạm vi toàn quốc”.
Điều 10 của Nghị định 123/2016/NĐ-CP quy định rằng các Bộ và cơ quan ngang bộ có trách nhiệm trình Chính phủ ban hành cơ chế, chính sách về cung ứng dịch vụ sự nghiệp công, thực hiện xã hội hóa và tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công. Điều này không đồng nghĩa với việc nhà nước độc quyền cung cấp dịch vụ công, mà ngược lại, nhà nước có thể xã hội hóa một số dịch vụ, chẳng hạn như y tế, giáo dục, cấp thoát nước, cho khu vực phi nhà nước thực hiện. Nghị định 32/2019/NĐ-CP cũng đề cập đến khái niệm dịch vụ công như là dịch vụ thiết yếu cho đời sống kinh tế - xã hội, cộng đồng dân cư, hoặc bảo đảm quốc phòng, an ninh mà Nhà nước phải tổ chức thực hiện.[3] Dịch vụ công có thể được hiểu theo nhiều cách khác nhau, có thể hiểu “Dịch vụ công là hoạt động phục vụ các nhu cầu chung thiết yếu, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân và tổ chức, do Nhà nước can thiệp vào việc cung cấp nhằm đảm bảo trật tự, lợi ích chung và công bằng xã hội". Với khái niệm này, dịch vụ công bao gồm dịch vụ hành chính công và dịch vụ công cộng.
Dịch vụ hành chính công liên quan đến việc 8 phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và phục vụ hoạt động quản lý nhà nước, nên về cơ bản dịch vụ này do cơ quan nhà nước thực hiện. Theo Mai Ngọc Anh và Đỗ Thị Hải Hà (2015), trong Tạp chí Kinh tế và phát triển, số 218 thì dịch vụ công được hiểu gắn với phạm trù hàng hóa công cộng. Khi loại hàng hóa được cung cấp thỏa mãn được một số đặc tính cơ bản, một loại dịch vụ sẽ được gọi là dịch vụ công. Đó là một loại hàng hóa mà mọi người đều phải sử dụng.
Nói cách khác, đối tượng cung cấp là loại hàng hóa cần thiết cho tất cả mọi người một cách bình đẳng và không chạy theo lợi nhuận kinh tế. Vậy rõ ràng lợi nhuận kinh tế không phải là yếu tố quyết định sự tồn tại của loại hàng hóa này mà mục đích chính là sự ổn định, phát triển xã hội và bảo đảm các điều kiện sống thiết yếu cho người dân. Thậm chí có những loại hàng hóa công cộng được nhà nước bao cấp một phần hoặc toàn bộ. Bởi vậy, nhiều người quan niệm, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước.
Có thể nói dịch vụ công chính là dịch vụ cung cấp loại hàng hóa vừa được làm rõ - hàng hóa công cộng.[13] Nhìn từ góc độ của chủ thể quản lý nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công bao gồm những hoạt động do nhà nước thực hiện để đáp ứng các chức năng quản lý và cung cấp hàng hóa công cộng, nhằm thoả mãn nhu cầu cơ bản và chung của cộng đồng. Theo quan điểm này, nhà nước có trách nhiệm cao cả trong việc đảm bảo việc cung cấp hàng hóa công cộng, nhấn mạnh rằng mục tiêu chính của dịch vụ công là phục vụ lợi ích thiết yếu của cộng đồng. Đồng thời, cũng có sự đóng góp của khu vực tư nhân trong việc cung cấp các dịch vụ công này. Dịch vụ công, khi xét từ nhiều góc độ, dù có sự khác biệt về tiếp cận, đều hướng tới mục tiêu chung là phục vụ nhu cầu và lợi ích thiết yếu của xã hội.
Khi nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân, nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết để đảm bảo công bằng và khắc phục bất cập thị trường. Dịch vụ công có thể được hiểu theo hai nghĩa: rộng và hẹp. Theo nghĩa rộng, dịch vụ công bao gồm tất cả các hoạt động của Chính phủ từ việc ban hành chính sách, pháp luật, đến các hoạt động y tế, giáo dục, và giao thông công cộng. Theo nghĩa hẹp, dịch vụ công là những hàng hoá, dịch vụ phục vụ trực tiếp cho tổ chức và công dân, mà Chính phủ can thiệp để cung cấp một cách hiệu quả và công bằng.
Sau một quá trình nghiên cứu kỹ lưỡng, nhóm nghiên cứu đã tổng hợp và phân tích các quan điểm đa dạng về “dịch vụ công”. Qua đó, xác định được sự nhất quán cơ bản trong các định nghĩa và phát biểu liên quan đến thuật ngữ này. Điều này tạo nên một 9 sự đồng thuận trong việc hiểu và nhận thức chung về “dịch vụ công”. Theo đó, “dịch vụ công” được hiểu là những hoạt động do nhà nước bảo đảm và thực hiện, hoặc thông qua việc ủy quyền cho các bên khác, với mục tiêu chính là cung cấp các hàng hóa và dịch vụ thiết yếu cho xã hội.
Những dịch vụ này không nhằm mục đích lợi nhuận và không phải là hoạt động kinh doanh. Chúng được triển khai theo các tiêu chuẩn và quy định của nhà nước, nhằm mục đích phục vụ lợi ích chung của cộng đồng và đóng góp vào sự phát triển bền vững của quốc gia. Đặc điểm của dịch vụ công Dịch vụ công có những đặc điểm cơ bản sau: Thứ nhất, dịch vụ công là những hoạt động được thiết kế để phục vụ lợi ích chung thiết yếu của xã hội. Bao gồm việc đảm bảo các quyền cơ bản và thực hiện nghĩa vụ của các tổ chức và công dân, từ việc cung cấp giáo dục, y tế, đến việc bảo vệ môi trường và duy trì an ninh quốc gia.
Mục tiêu của những hoạt động này là tạo ra một nền tảng vững chắc cho một xã hội công bằng và thịnh vượng. Thứ hai, nhà nước có trách nhiệm chính trong việc cung ứng dịch vụ công, dù là trực tiếp hay thông qua việc ủy quyền cho các bên thứ ba. Trong trường hợp nhà nước chuyển giao một số dịch vụ cho khu vực tư nhân, nhà nước vẫn giữ vai trò điều tiết chủ chốt để đảm bảo rằng dịch vụ được cung cấp một cách công bằng và hiệu quả, đồng thời giải quyết các vấn đề mà thị trường không thể tự điều chỉnh được. Thứ ba, dịch vụ công mang tính chất phục vụ trực tiếp, đáp ứng nhu cầu, quyền lợi và nghĩa vụ cụ thể của người dân và các tổ chức.
Điều này có nghĩa là các dịch vụ được cung cấp phải đáp ứng được nhu cầu thực tế và cụ thể của người dân, từ việc cấp giấy tờ tùy thân đến việc cung cấp các dịch vụ hỗ trợ xã hội. Thứ tư, mục tiêu cuối cùng của dịch vụ công là đảm bảo tính công bằng và hiệu quả trong việc cung cấp dịch vụ. Điều này đòi hỏi một hệ thống quản lý và phân phối dịch vụ công được thiết kế tốt, sao cho mọi người dân đều có quyền tiếp cận các dịch vụ cần thiết mà không bị phân biệt đối xử, và nguồn lực được sử dụng một cách hiệu quả nhất có thể. Phân loại dịch vụ công Hiện nay, Việt Nam có 3 loại hình dịch vụ công cơ bản dựa vào tính chất và tác dụng của dịch vụ được cung ứng: dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp; dịch vụ công 10 trong lĩnh vực công ích và dịch vụ hành chính công.
Các loại hình dịch vụ công này đều có tầm quan trọng trong việc đem lại lợi ích chung, bình đẳng trong xã hội. Dịch vụ công trong lĩnh vực sự nghiệp: Theo Nghị định số 60/2021/NĐ-CP quy định “Dịch vụ sự nghiệp công là dịch vụ sự nghiệp trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo; giáo dục nghề nghiệp; y tế - dân số; văn hóa, thể thao và du lịch; thông tin và truyền thông; khoa học và công nghệ; các hoạt động kinh tế và lĩnh vực khác.” Hiện nay có 02 loại dịch vụ sự nghiệp công: dịch vụ sự nghiệp công sử dụng kinh phí ngân sách của nhà nước (được nhà nước đảm bảo chi phí) và dịch vụ sự nghiệp công không sử dụng kinh phí từ ngân sách nhà nước (không được nhà nước bao cấp). Dịch vụ công trong lĩnh vực công ích: Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 32/2019/NĐ-CP quy định “Sản phẩm, dịch vụ công ích là sản phẩm, dịch vụ mà việc sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ này theo cơ chế thị trường khó có khả năng bù đắp chi phí hoặc sản phẩm, dịch vụ có tính chất đặc thù; được Nhà nước trợ giá phần chênh lệch giữa giá tiêu thụ, giá sản phẩm dịch vụ theo quy định của Nhà nước hoặc phần chênh lệch giữa số tiền do người được hưởng sản phẩm, dịch vụ công ích thanh toán theo quy định của Nhà nước, với chi phí hợp lý của nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích để sản xuất, cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích do Nhà nước đặt hàng (hoặc giao nhiệm vụ theo quy định của pháp luật chuyên ngành nếu có).