Chương 1: Tổng quan đề tài nghiên cứu - Chương 2: Cơ sở lý thuyết và mô hình nghiên cứu - Chương 3: Phương pháp nghiên cứu - Chương 4: Kết quả nghiên cứu - Chương 5: Kết luận và kiến nghị 3 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 CHƯƠNG 2. CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ MÔ HÌNH NGHIÊN CỨU 2. Cơ sở lý thuyết nghiên cứu 2. Tổng quan về dịch vụ công 2.
Dịch vụ Theo Zeithaml và Bitner (2000) cho rằng: Dịch vụ là những hàng vi hỗ trợ, cung cấp, tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc làm cho khách hàng cảm thấy hài lòng với những yêu cầu của họ.L (2006): “Dịch vụ là một hoạt động bao gồm các nhân tố không hiện hữu, giải quyết các mối quan hệ giữa khách hàng hoặc tài sản mà khách hàng sở hữu với người cung cấp mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu”. Dịch vụ công Theo Nguyễn Hữu Hải và Lê Văn Hòa ( 2014), dịch vụ công là dịch vụ được cung cấp bởi các cơ quan nhà nước nhằm phục vụ nhu cầu của người dân trong cuộc sống, mà những nhu cầu này là nhu cầu quan trọng và bức thiết không có một tổ chức nào có thể đứng ra làm thay cơ quan nhà nước. Cơ quan thực hiện cung cấp dịch vụ công hoạt động dựa trên pháp luật, tuân thủ các quy định của pháp luật, khi người dân đến các cơ quan cung cấp dịch vụ công đa phần họ đã xác định mục đích của mình. Khi đến các cơ quan này người dân không có quyền lựa chọn các dịch vụ mình muốn, mà phải nhận những dịch vụ quy định trên cơ sở những thủ tục được quy định tại hệ thống pháp luật của Việt Nam (Lê Chi Mai, 2006: trang 31).
“Dịch vụ công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tố chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý nhà nước” (Lê chi Mai, 2006: trang 452). Đặc trưng của dịch vụ công Bốn đặc tính của dịch vụ công sau: - Vô hình, - Không thể tách rời, - Không đồng nhất và 4 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 - Dễ hỏng (Parasuraman, 1985). + Vô hình (intangibility) là khách hàng không thể nhìn thấy hoặc trực tiếp cầm nắm nó trước khi bạn muốn mua nó. Có nghĩa khi bạn muốn mua nó bạn cũng không biết trước kết quả như thế nào, bạn chỉ có thể cảm nhận và ra quyết định bằng cảm tính và đôi khi là sự bắt buộc phải dùng dịch vụ đó.
Như vậy, có thể xem đây không phải là sản phẩm thuần túy thông thường mà là một loại sản phẩm đặc biệt, sản phẩm vô hình (Lehtinen, U. + Không tách rời (inseparability). Đối với sản phẩm thông thường luôn tuân thủ theo quy trình sản xuất trước, sản phẩm có sau người tiêu dùng sau đó nhìn thấy và ra quyết định mua khi đáp ứng được nhu cầu của họ. + Không đồng nhất (Heterogeneity).
Dịch vụ thường thay đổi theo ý chí nhà cung cấp chính vì vậy cũng khó xác định có phù hợp xu thế không, khó có tiêu chuẩn hóa cụ thể. Dịch vụ có thời gia và hạn định nhất định, nghĩa là người tiêu dùng khi mua sản phẩm dịch vụ phải có mục đích tiêu dùng cụ thể trong một khoảng thời gian xác định, nếu không qua hạn định sản phẩm không thể sử dụng được nữa, tùy loại sản phẩm dịch vụ mà có quy định cụ thể. Chất lượng dịch vụ công và sự hài lòng của người dân 2. Chất lượng dịch vụ công Dựa trên một số khái niệm, thuật ngữ, các nhà khoa học nghiên cứu áp dụng trong TCVN ISO 9001:2008 có thể hiểu: “chất lượng dịch vụ công là khả năng thỏa mãn các yêu cầu của tổ chức và cá nhân về cung ứng dịch vụ hành chính công với sản phẩm cụ thể là các quyết định hành chính”.
Có thể đưa ra một số tiêu chí đánh giá chất lượng dịch vụ công: - Tạo Sự tin cậy đối với người tham gia dịch vụ công bằng cách: + Giải quyết hồ sơ đúng hạn (đúng theo thời gian pháp luật quy định đối với từng loại thủ tục và đúng với giấy mà cơ quan cung cấp dịch vụ đã hẹn để trả kết quả cho người dân). 5 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 + Hồ sơ không bị sai sót thất lạc trong quá trình giải quyết của cơ quan thì sẽ làm tăng sự tin tưởng của người dân. - Môi trường làm việc sạch sẽ, thoáng mát, phòng chờ có trang thiết bị phụ thêm để người dân có thể tìm hiểu thông tin hồ sơ, đọc báo, có internet để truy cập thông tin có liên quan đến hồ sơ. - Cán bộ nhân viên phải hòa đồng, nhiệt tình, vui vẻ trong hướng dẫn hồ sơ, tránh quát nạt, thái độ cư xử không quan tâm đến lời nói của người dân, đây là yếu tố ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân.
- Nhân viên tiếp nhận hồ sơ cũng như cán bộ xử lý phải có kinh nghiệm thực tiễn để có thể xử lý nhanh các yêu cầu tương đối phức tạp của người dân, muốn vậy bộ phận tiếp nhận phải là người có thâm niên công tác, am hiểu thủ tục các dịch vụ. - Lắng nghe, cảm nhận và hiểu được các yêu cầu của người dân đồng thời phải quan tâm đến những lợi ích hợp pháp của họ khi thực hiện công vụ. - Trình tự thủ tục gọn nhẹ, dễ hiểu, tránh rườm rà, khó thực hiện là những tiêu chí nâng cao chất lượng phục vụ dịch vụ công. Đo lường chất lượng dịch vụ công Đo lường chất lượng dịch vụ này cho ta bức tranh tổng thể vể chất lượng dịch vụ.
Để tiến hành thực hiện, Parasuaraman (1985) đưa ra 10 nhân tố dùng để đánh giá chất lượng dịch vụ nói chung trong đó có chất lương dịch vụ công. Mô hình 10 yếu tố đã nêu gần như tổng quát được hết mọi khía cạnh liên quan đến dịch vụ. Nhưng các thang đo này quá phức tạp khi ứng dụng vào thực tế và có tính chất nghiên về lý thuyết nên sau nhiều lần nghiên cứu và kiểm định thực tế, Parasuaraman & cộng sự (1991) đã cải thiện và được ứng dụng rộng rãi hơn trong việc đo lường chất lượng dịch vụ có 05 tiêu chí cơ bản được xem xét: - Sự tin cậy (Reliability): Là giữ đúng lời hứa, ở đây có thể hiểu là đúng thời hạn cam kết của nhà cung cấp dịch vụ. - Sự đáp ứng (Response): được đánh giá qua tất cả các yêu cầu hợp lý của khách hàng đều được đáp ứng, giúp đỡ họ trong giới hạn cho phép để hoàn thành công vụ và hoàn thành trách nhiệm đối với khách hàng.
6 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.com) lOMoARcPSD|39150642 - Sự đảm bảo (Assurance): Đảm bảo về mặt thời gian, số lượng yêu cầu, đảm bảo về tính chuyên môn nghiệp vụ, đảm bảo thái độ phục vụ nhân viênđều có ảnh hưởng đến sự hài lòng của người dân. - Sự cảm thông (Empathy): dịch vụ công cũng như những dịch vụ khác phải coi khách hàng là quan trọng, phải quan tâm chăm sóc khách hàng chu đáo, tạo cảm giác an tâm. - Sự hữu hình (Tangibility): Cơ sở vật chất nơi làm việc ngoài phục vụ cho nhân viên còn phải hướng tới khách hàng, trang phục, ngoại hình của nhân viên cũng ảnh hưởng đến ảnh hưởng đến sự hài lòng. Tùy vào điều kiện thực tế của mỗi ngành, mỗi lĩnh vực dịch vụ mà vận dụng linh hoạt phù hợp để có những kết quả tốt nhất cho việc đánh giá.
Tuy nhiên, cần lưu ý khi sử dụng thang đo SERVQUAL trong quá trình đánh giá, cần nghiên cứu cũng như kiểm định mô hình một cách khách quan và thận trọng vì ở mỗi ngành lĩnh vực cho nên các biến có thể thay đổi. “Sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công” Theo Kotler và Keller (2006): Sự hài lòng là việc đánh giá của một người nào đó đối với việc cung cấp của cơ quan, tổ chức nào đó có thể đáp ứng tốt hoặc không tốt theo nhận thức cảm tính của người đánh giá trên cơ sở mong đợi của họ. Theo Zeithaml & Bitner (2000) thì quan niệm sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ nào đó chính là sự đánh giá của họ về sản phẩm hay dịch vụ nào đó có đáp ứng được những yêu cầu và mong đợi của họ thông qua kết quả về sản phẩm hay dịch vụ mà họ nhận được hay không. Theo tác giả Bachelet (1995) “sự hài lòng của khách hàng mang tính kinh nghiệm”, tức là kết quả dịch vụ phải đúng với yêu cầu họ thì mới có sự hài lòng, kinh nghiệm đó được thu thập qua sự từng trải của khách hàng.
Vì vậy, để kết quả được chuẩn xác đòi hỏi người thực hiện nghiên cứu phải lấy mẫu kiểm định và thống kê phân tích. Có thể nhận xét, Chất lượng dịch vụ là nguyên nhân (nguồn gốc) tạo nên sự hài lòng của khách hàng. Chất lượng dịch vụ và sự hài lòng của khách hàng có quan hệ đồng biến với nhau. 7 Downloaded by ANH BACH (bachvan15@gmail.
Vai trò đo lường sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công Theo Võ Nguyên Khanh, 2011: Mục đích của việc đo lường sự hài lòng của người dân là: - Nâng cao sự hài lòng của người dân đối với dịch vụ công, qua đó có những thay đổi phù hợp với thực tế, dần cải thiện được bộ máy làm việc của các cơ quan nhà nước. Đồng thời khắc phục những hạn chế khuyết điểm trong quá trình thực hiện công vụ của cơ quan cũng như nhân viên phục vụ công. - Đánh giá sự hài lòng của người dân chính là đánh giá kết quả thực hiện công vụ của cán bộ viên chức thực hiện công vụ, nếu quá trình thực hiện chưa tốt cần có biện pháp cải thiện, khắc phục những những điểm chưa tốt, những vướng mắc cần giải quyết, đồng thời cũng đánh giá chất lượng phục vụ của viên chức làm việc trong lĩnh vực phục vụ công. - Xác định các loại thủ tục hành chính còn rườm, gây khó khăn cho người dân từ đó nghiên cứu đề xuất loại bỏ hoặc thay thế các loại thủ tục khác phù hợp hơn.
Theo Tony Bovaird & Elike Loffler (1996), nhận định: Dịch vụ công có chất lượng tốt không những làm gia tăng sự hài lòng của người dân mà còn xây dựng nên sự trung thực trong quản lý công. Vì vậy, việc đo lường sự hài lòng của người dân khi sử dụng dịch vụ công sẽ giúp các cơ quan tổ chức hoạt động trong lĩnh vực công ngày một hoàn thiện và hiệu quả hơn, chuyên nghiệp hơn trong cách làm việc cũng như xử ý các vấn đề còn tồn tại.