Chương 1: Cơ sở lý thuyết về chất lượng dịch vụ hành chính công Chương 2: Thực trạng chất lượng dịch vụ hành chính công tại Uỷ ban nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá Chương 3: Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính công tại Uỷ ban nhân dân huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá. tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 18 of 61. Header Page of 61. 10 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ CHẤT LƢỢNG DỊCH VỤ HÀNH CHÍNH CÔNG 1.
Tổng quan về dịch vụ hành chính công 1. Khái niệm dịch vụ hành chính công Hành chính công (HCC) là hoạt động mang tính quyền lực nhà nước (bao gồm luật pháp, các quy tắc, quy chế, thiết chế,…), do các chủ thể được sử dụng quyền lực nhà nước (đội ngũ CBCC- là người có trách nhiệm thực thi công vụ mà nhà nước đã giao) tiến hành để quản lý công việc của Nhà nước nhằm phục vụ lợi ích chung, lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân. Việt Nam, chức năng cung cấp dịch vụ công là một hoạt động thuộc phạm vi chức năng, nhiệm vụ của bộ máy hành chính nhà nước đã được pháp luật quy định trong nhiều văn bản như: Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013, ngày 28/11/2013; Luật Tổ chức Chính phủ quy định về chức năng quản lý, phát triển dịch vụ công của Chính phủ [12]; với những nhiệm vụ là phục vụ các nhu cầu thiết yếu của xã hội nhằm đem lại lợi ích chung cho công đồng, cho xã hội. Thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia theo “Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011-2020”, nền hành chính công Việt Nam đã triển khai cải cách toàn diện trên nhiều nội dung cơ bản và Dịch vụ công được chia thành 03 loại dịch vụ: Dịch vụ HCC (là dịch vụ thực hiện nhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu của người dân từ trật tự trị an tới các TTHC cấp giấy tờ liên quan đến xác nhận, đảm bảo các quyền cơ bản của công dân); Dịch vụ sự nghiệp công (là các hoạt động thực hiện nhiệm vụ đáp ứng các yêu cầu về văn hoá, giáo dục, y tế, khoa học công nghệ); Dịch vụ công cộng (là các hoạt động thực hiện nhiệm vụ cung ứng các loại “hàng hoá” công cộng đáp ứng các yêu cầu về điều kiện sinh hoạt, môi trường sống do nhà nước cung cấp cho nhân dân).
tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 19 of 61. Header Page of 61. 11 Như vậy, dịch vụ công phải là những cơ quan công quyền hoặc những cơ quan do nhà nước thành lập mới được phép cung ứng các dịch vụ công. Đối tượng được hưởng các dịch vụ công là những người Việt Nam hoặc những người sinh sống và làm việc tại Việt Nam (được pháp luật cho phép và phải xin visa khi lưu trú tại Việt Nam theo quy định hiện hành của Luật lưu trú Việt Nam).
Chi phí hưởng các dịch vụ công này không giống các dịch vụ thương mại khác (mục tiêu là lợi nhuận, chi phí ngang giá theo quan hệ cung cầu), mà chỉ là một mức phí hay lệ phí do nhà nước quy định; phần phí/lệ phí này mang tính chất hỗ trợ cho ngân sách nhà nước [24]. Trong ba loại dịch vụ công trên, dịch vụ HCC là loại dịch vụ công đặc biệt; gắn liền với chức năng quản lý nhà nước nhằm đáp ứng yêu cầu cuả người dân. Mỗi dịch vụ HCC gắn liền với một TTHC để giải quyết hoàn chỉnh một công việc cụ thể liên quan đến tổ chức, cá nhân. Các CQHCNN thực hiện cung ứng dịch vụ HCC thông qua 2 chức năng cơ bản: chức năng quản lý nhà nước đối với mọi lĩnh vực của đời sống KT-XH và chức năng cung ứng dịch vụ công cho tổ chức và công dân.
Theo Vũ Thị Hoài Phương (2018) “Dịch vụ HCC là các hoạt động nhân danh công quyền nhà nước đáp ứng yêu cầu của người dân từ trât tự trị an tới các thủ tục giấy tờ hành chính như cấp giấy phép, giấy chứng nhận, đăng ký, công chứng, thị thực hộ tịch, hộ khẩu. bảo đảm các quyền cơ bản của công dân” [11]. Theo Lê Chi Mai (2006) “Dịch vụ hành chính công là những hoạt động phục vụ các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, do các cơ quan hành chính nhà nước thực hiện dựa vào thẩm quyền hành chính pháp lý nhà nước” [10]. tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 20 of 61.
Header Page of 61. 12 Theo Điều 3 của Nghị định số 43/2011/NĐ-CP [2] có nêu: “Dịch vụ HCC là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý”. Từ những quan điểm phân tích trên, luận văn sử dụng khái niệm dịch vụ HCC theo nghị định số 43/2011/NĐ-CP cho nghiên cứu. Các đặc trưng của dịch vụ hành chính công - Thứ nhất, việc cung ứng dịch vụ HCC luôn gắn với thẩm quyền và hoạt động của các CQHCNN.
Thẩm quyền của các cơ quan HCNN thể hiện dưới hình thức thực hiện các TTHC nhằm giải quyết các quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức và công dân như cấp các loại giấy phép, giấy khai sinh, công chứng, hộ tịch. Tính pháp lý của các loại giấy tờ trên chỉ có giá trị hiệu lực pháp lý khi được thực hiện bởi các CQHCNN, mà không phải do các tổ chức được uỷ quyền ngoài tổ chức nhà nước thực hiện. Vì vậy, nhu cầu được cung ứng các dịch vụ HCC của người dân và tổ chức (DN) không phải là nhu cầu tự thân của họ mà xuất phát từ các quy định có tính chất bắt buộc của Nhà nước thông qua các TTHC. Nhà nước bắt buộc và khuyến khích mọi người thực hiện các quy định này nhằm đảm bảo trật tự và an toàn xã hội, thực hiện chức năng quản lý mọi mặt đời sống xã hội.
- Thứ hai, hoạt động dịch vụ HCC không thuộc chức năng quản lý của nhà nước nhưng lại là hoạt động phục vụ thiết thực cho quản lý nhà nước. Để đảm bảo thực hiện chức năng quản lý, bảo đảm an toàn xã hội, nhà nước bắt buộc và khuyến khích người dân thực hiện các dịch vụ HCC. Việc người dân tham gia sử dụng dịch vụ HCC sẽ tạo điều kiện cho quản lý nhà nước hiệu quả. - Thứ ba, Dịch vụ HCC là hoạt động không nhằm mục tiêu lợi nhuận: Là dịch vụ mang tính chất phục vụ người dân và xã hội nên dịch vụ HCC tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 21 of 61.
Header Page of 61. 13 không hướng đến vụ lợi. Tuy nhiên, trong điều kiện khả năng cung cấp của Nhà nước, một số dịch vụ HCC có thể thu lệ phí nhằm tạo sự công bằng giữa người sử dụng dịch vụ và người không sử dụng dịch vụ chứ không mang tính chất bù đắp hao phí lao động cho chủ thể cung cấp dịch vụ. - Thứ tư, Mọi người dân có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận và sử dụng các dịch vụ HCC: Với tư cách là đối tượng phục vụ của Nhà nước, mọi người dân được bình đẳng, không phân biệt đối xử trong sử dụng dịch vụ HCC.
Chất lƣợng dịch vụ hành chính công 1. Khái niệm chất lượng dịch vụ ❖Khái niệm dịch vụ Quan niệm về dịch vụ có sự khác nhau ở mỗi thời kỳ, nó thay đổi theo trình độ phát triển kinh tế. Dịch vụ được cung cấp tại một điểm và ở một thời gian nhất định, nghĩa là trong cùng một thời điểm việc tiêu dùng và sản xuất dịch vụ diễn ra cùng lúc. Khi một dịch vụ được tạo ra cũng là lúc giá trị dịch vụ đã hiện hữu.
Quá trình từ sản xuất đến tiêu dùng không có khoảng cách về thời gian, nó song song và diễn ra đồng thời. Dịch vụ là các hoạt động hoặc lợi ích được chào bán hoặc được cung cấp trong sự liên kết với một mặt hàng cụ thể [23]. Khi nói tới dịch vụ, Kotler và cộng sự (1996) đã cho rằng: “Dịch vụ là mọi hành động và kết quả mà một bên có thể cung cấp cho bên kia và chủ yếu là vô hình và không dẫn đến quyền sở hữu một cái gì đó” [27]. Dịch vụ là hoạt động thực hiện giữa nhà cung cấp sản phẩm hay dịch vụ với người mua.
Hay dịch vụ là hành vi, quá trình, cách thức thực hiện một công việc nào đó nhằm tạo ra giá trị sử dụng cho người sử dụng dịch vụ làm thỏa mãn nhu cầu và mong đợi của người sử dụng dịch vụ (Zeithaml, 2000) [30]. Dịch vụ là hoạt động không hữu hình, không tồn tại dưới hình thái vật thể mà được tạo ra từ các hoạt động cung cấp dịch vụ từ người cung ứng cho người nhận cung tai lieu, luan van, khoa luan, tieu luan 22 of 61. Header Page of 61. 14 ứng; đôi khi chỉ là những hành động mà nhà cung cấp muốn chuyển tới người sử dụng dịch vụ; ví dụ như chỉ là sự mỉm cười và cúi đầu chào đón người sử dụng dịch vụ của các Nhân viên đón khách tại cửa ra vào của khách sạn hay nhà hàng.
Tuy không có hình dạng cụ thể, không thể lưu trữ được cũng như không ổn định và khó xác định được cụ thể nhưng dịch vụ hiện hữu trong tất cả các mặt của cuộc sống từ những nhu cầu cơ bản thiết yếu của con người (ăn, ở, mặc, đi lại.) đến những nhu cầu giải trí và không chỉ tồn tại trong các lĩnh vực kinh doanh truyền thống (như du lịch, ngân hàng, giao thông vận tải.) mà còn trong các lĩnh vực dịch vụ khác. Do vậy, xã hội càng phát triển thì vai trò của dịch vụ ngày càng quan trọng. ❖Khái niệm chất lượng dịch vụ Khi cạnh tranh trở nên gay gắt và các yếu tố môi trường kinh doanh khắc nghiệt hơn thì mối quan tâm về CLDV cũng tăng lên [23]. Yếu tố mang tính chiến lược và thiết yếu cho sự tồn tại và thành công của mỗi tổ chức, DN (tổ chức) trong sự cạnh tranh khốc liệt hiện nay chính là CLDV [29].
Nghiên cứu của Lewis và cộng sự (1994) cho thấy các nhà cung cấp dịch vụ có thể có được lợi ích mong đợi khi họ theo đuổi CLDV [28].