Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Cơ sở lý luận về đăng ký đất đai và Văn phòng Đăng ký quyền sử dụng đất/ Văn phòng Đăng ký đất đai 1. Khái niệm về đất đai, bất động sản, thị trường bất động sản 1.
Đất đai Đất đai là một diện tích cụ thể của bề mặt trái đất, bao gồm tất cả các cấu thành của môi trường sinh thái ngay trên và dưới bề mặt đó: bao gồm khí hậu bề mặt, thổ nhưỡng, dạng địa hinh, nước mặt (hồ, sông, nước ngầm, tập đoàn thực vật và động vật, trạng thái định cư của con người, những kết quả do hoạt động của con người trong quá khứ và hiện tại để lại (sau nền, hồ chứa nước hay hệ thống tiêu thoát nước, đường sá, nhà cửa. Đất như là một khu vực hay một nhất thể không gian từ một thửa đất đến một đất nước cho đến cả hành tinh (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005). Bất động sản Bất động sản bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không thể tách rời khỏi đất đai, cùng với những thứ dùng để nâng cao giá trị sử dụng của bất động sản như hàng rào, cây cối và các trang thiết bị cấp thoát nước, cấp điện, vệ sinh, thông gió, thang máy, phòng cháy, thông tin. Các quy định về bất động sản trong pháp luật của Việt Nam là khái niệm mở.
Bất động sản bao gồm đất đai, vật kiến trúc và các bộ phận không thể tách rời khỏi đất đai và vật kiến trúc. Bất động sản có những đặc tính sau đây: có vị trí cố định, không di chuyển được, tính lâu bền, tính thích ứng, tính dị biệt, tính chịu ảnh hưởng của chính sách, tính phụ thuộc vào năng lực quản lý, tính ảnh hưởng lẫn nhau. Bộ luật Dân sự năm 2005 tại Điều 174 có quy định: Bất động sản là các tài sản bao gồm: đất đai; nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định (Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam, 2005). Thị trường bất động sản Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 3 Bất động sản là loại hàng hóa đặc biệt, tuy không thể di chuyển nhưng có thể đem lại lợi ích cho chủ sở hữu, do đó làm nảy sinh hoạt động giao dịch.
Thị trường bất động sản là nơi tiến hành các giao dịch về bất động sản, mang tính khu vực và biến động theo thời gian. Vì vậy thị trường bất động sản là tổng hòa các giao dịch bất động sản đạt được tại một khu vực địa lý nhất định trong một thời điểm nhất định. Thị trường bất động sản là cơ chế, trong đó hàng hóa và dịch vụ bất động sản được trao đổi. Thị trường bất động sản được hiểu theo nghĩa hẹp chỉ bao gồm các hoạt động có liên quan đến giao dịch bất động sản như: Mua bán, cho thuê, thừa kế, thế chấp bất động sản.
Thị trường bất động sản theo nghĩa rộng bao gồm cả các lĩnh vực liên quan đến việc tạo lập bất động sản. Thị trường bất động sản là một bộ phận cấu thành quan trọng của nền kinh tế thị trường. Thị trường bất động sản liên quan chặt chẽ với các thị trường khác như: Thị trường hàng hoá, thị trường chứng khoán, thị trường lao động, thị trường khoa khoa học công nghệ (Nguyễn Thanh Trà, Nguyễn Đình Bồng, 2005). Khái quát về hệ thống đăng ký đất đai 1.
Khái niệm về hệ thống đăng ký đất đai Hệ thống đăng ký đất đai là một phần của quan trọng trong quản lý đất đai, chứa đựng và cung cấp thông tin liên quan đến đất đai, bao gồm nhưng không giới hạn thông tin về quyền đối với đất đai (quyền sở hữu, sử dụng, khai thác và hưởng lợi từ đất), chủ thể có quyền và các thuộc tính của đất đai. Các thông tin này được đăng ký và lưu trữ theo nhiều cách khác nhau tùy thuộc vào mục đích mà chúng được khai thác, sử dụng (Đặng Anh Quân, 2011a). Các yếu tố quan trọng của hệ thống đăng ký đất đai Hệ thống đăng ký đất đai xác lập và chứa đựng bốn yếu tố cơ bản của đất đai gồm: yếu tố hình học, yếu tố pháp lý, yếu tố giá trị và yếu tố sử dụng: - Yếu tố hình học thể hiện sử hình thành và xác định ranh giới của từng thửa đất cũng như tất cả các thửa đất trong một diện tích nhất định thông qua các hoạt động điều tra, khảo sát, đo đạc lập các loại bản đồ đất đai. Các Sổ địa chính, các loại bản đồ địa chính là sản phẩm của hoạt động địa chính chứa đựng thông Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 4 tin về đặc điểm hình học, vật lý của các thửa đất như hình thể, vị trí, diện tích, toạ độ bản đồ.
- Yếu tố pháp lý thể hiện sự xác lập và thừa nhận quyền sử dụng đối với một hoặc một số diện tích nhất định của cá nhân hay tổ chức nào đó. Để được thừa nhận và pháp luật bảo vệ người sử dụng đất phải có trách nhiệm đăng ký với nhà nước nhằm xác lập quyền sử dụng của mình đối với những diện tích đất đai xác định. Việc đăng ký có thể tiến hành từ thời điểm ban đầu thửa đất được tạo lập hoặc diễn ra khi có sự biến động trong quá trình sử dụng đất. Việc đăng ký giúp Nhà nước nắm chắc tình hình sử dụng và biến động của đất đai, phục vụ hiệu quả cho công tác quản lý nhà nước.
- Định giá đất đai là yếu tố thứ ba cần thiết phải có trong hệ thống thông tin đất đai được đăng ký. Nó thể hiện phương diện giá trị của diện tích đăng ký, góp phần củng cố và làm phong phú thông tin đất đai. Đây là hoạt động phổ biến do Nhà nước tiến hành nhằm hỗ trợ cho việc thu thuế của Nhà nước. Kết quả của hoạt động định giá được ghi nhận trong hệ thống đăng ký đất đai thể hiện qua những thông tin về giá trị bằng tiền của thửa đất.
- Mục đích sử dụng đất là một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc định giá đất đai bởi nó quyết định giá trị kinh tế của đất đai. Sự thay đổi trong mục đích sử dụng đất sẽ dẫn đến sự thay đổi giá trị thị trường của nó, đồng thời cũng làm thay đổi nguồn thu phát sinh từ thuế đất (Đặng Anh Quân, 2011b). Lợi ích của hệ thống đăng ký đất đai - Đối với chủ thể sử dụng đất và các chủ thể liên quan: Lợi ích đầu tiên được thể hiện rõ ràng là sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người sử dụng đất đối với một diện tích xác định. Bởi vì dữ liệu đăng ký thể hiện chủ quyền chỉ của duy nhất một người thì chỉ người đó mới có thể định đoạt đối với quyền sử dụng và những lợi ích trên đất, và quyền lợi của họ sẽ được Nhà nước đảm bảo trước sự xâm phạm của chủ thể khác.
Đăng ký đất đai còn cung cấp một sự bảo vệ phù hợp cho tất cả những người liên quan đối với thửa đất không phải chủ sử dụng đất đối với các thửa đất liền kề về lối đi, các tiện ích công cộng như điện, nước, cống rãnh. hạn chế mục đích sử dụng đất, xây dựng công trình trên đất. Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 5 - Đối với Nhà nước: Thông tin đất đai đáng tin cậy và luôn được cập nhật là cơ sở để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ lãnh thổ, chủ quyền quốc gia, thực thi nhiệm vụ của một chủ thể quản lý xã hội và sau đó là bảo vệ quyền sở hữu đất đai của Nhà nước. Thông tin đất đai có trong hệ thống đăng ký là cơ sở đảm bảo hoạt động cho thị trường đất đai và bất động sản, làm tăng ngân sách thông qua các nguồn thu từ thuế; hỗ trợ cho hoạt động quy hoạch đất đai cho các mục đích phát triển kinh tế.
- Đối với xã hội: Hệ thống đăng ký đất đai góp phần trong việc bình ổn xã hội, thúc đẩy sự phát triển của thị trường đất đai và bất động sản, hạn chế ô nhiễm môi trường, đảm bảo sự phát triển bền vững của tài nguyên quốc gia (Đặng Anh Quân, 2011c). Những yêu cầu đối với hệ thống đăng ký đất đai Để đánh giá tính hiệu quả, những yêu cầu cơ bản đã được đặt ra như là tiêu chí quan trọng đối với xây dựng hệ thống đăng ký đất đai, gồm có: - Sự chính xác và an toàn: Đây là yêu cầu thiết yếu đối với hệ thống đăng ký nhằm đảm bảo cho sự ổn đinh trong hoạt động và hiệu quả của hệ thống đăng ký đất đai. Sự chính xác đòi hỏi hoạt động đăng ký phái được tiến hành theo những trình tự, thủ tục chặt chẽ, đúng chủ thể, đúng đối tượng, đúng quyền lợi, nghĩa vụ và thiết lập đầy đủ hồ sơ theo quy định. Yêu cầu an toàn thể hiện trong việc sắp xếp, lưu trữ thông tin đăng ký khi có rủi ro, tính bảo mật của thông tin.
- Sự rõ ràng và đơn giản: Đây là một yêu cầu không thể dễ dàng được đáp ứng. Bởi lẽ hệ thống đăng ký đất đai gồm bốn thành phần về hình học, pháp lý, giá trị và sử dụng đất đai được thể hiện bằng những hoạt động mang tính chất khác nhau do những cơ quan khác nhau thực hiện thông qua những phương pháp, công cụ, phương tiện đa dạng. Do vậy, sự rõ ràng và đơn giản có thể được hiểu là: thủ tục đăng ký không phức tạp, rườm rà, thời gian nhanh chóng, thành phần hồ sơ đơn giản, thông tin đăng ký dễ tiếp cận; hệ thống lưu trữ thông tin được sắp xếp, lưu trữ và thể hiện kết cấu đơn giản, dễ hiểu, dễ sử dụng. - Sự triệt để, kịp thời: Mọi trường hợp sử dụng đất cũng như những biến động trong việc sử dụng đất phải được ghi nhận một cách chính xác, kịp thời Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Nông nghiệp Page 6 ngay khi việc sử dụng đất được bắt đầu hoặc ngay sau khi biến động sử dụng đất diễn ra.
Điều này đòi hỏi Nhà nước phải chủ động trong các hoạt động quản lý về quy hoạch, đo đạc bản đồ, thu hồi đất, giao đất, cho thuê đất, cấp giấy chứng nhận QSD đất, xây dựng cơ sở dữ liệu về đất đai.