Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ LIÊN THÔNG TRONG CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH TẠI ỦY BAN NHÂN DÂN CẤP HUYỆN 1. Thủ tục hành chính, cải cách thủ tục hành chính và cải cơ chế một cửa liên thông trong cải cách thủ tục hành chính 1. Thủ tục hành chính Một trong những đặc điểm cơ bản của Nhà nước là tổ chức và hoạt động theo trật tự pháp lý. Toàn bộ các quy tắc pháp lý quy định về trình tự, thẩm quyền của các cơ quan Nhà nước trong việc thực hiện nhiệm vụ của Nhà nước và giải quyết công việc liên quan đến tổ chức, công dân tạo thành hệ thống quy phạm thủ tục.
Các quy phạm thủ tục này là những nguyên tắc bắt buộc các cơ quan Nhà nước và công chức Nhà nước phải tuân theo. Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa (XHCN), quyền lực Nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp. Như vậy, tất yếu phải có các bộ quy phạm thủ tục lập pháp, thủ tục hành pháp và thủ tục tư pháp. Theo giáo trình Hành chính công định nghĩa: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức giải quyết công việc của cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức và cá nhân công dân.
Nó giữ vai trò đảm bảo cho công việc đạt được mục đích đã định, phù hợp 12 với thẩm quyền của các cơ quan nhà nước hoặc của các cá nhân, tổ chức được ủy quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước”. Theo Nghị định số 92/2017/NĐ-CP ngày 07/8/2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định liên quan đến kiểm soát thủ tục hành chính quy định về kiểm soát thủ tục hành chính tại Khoản 1, Điều 3 định nghĩa: “Thủ tục hành chính là trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” [3]. Thủ tục hành chính là bô ̣phận cơ bản của thể chế hành chính nhà nước, là công cụ của cơ quan hành chính Nhà nước được sử dụng để giải quyết công việc cho công dân, tổ chức là cơ sở để xác định tính hợp pháp của nền công vụ. Do vâỵ, thủ tục hành chính đơn giản, thuận tiện, công khai và dân chủ sẽ góp phần tăng cường hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bô ̣máy hành chính nhà nước, rút ngắn khoảng cách giữa nhà nước và nhân dân, củng cố sức mạnh nhà nước, lòng tin của Nhân dân và góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Chính vì vậy thủ tục hành chính đã đáp ứng được yêu cầu bức xúc của các tổ chức, công dân, là khâu đột phá của tiến trình cải cách thủ tục hành chính Nhà nước [19]. Từ những phân tích trên, có thể nhận thấy thủ tục hành chính là một quy phạm pháp luật quy định về trình tự về thời gian, về không gian khi thực hiện một thẩm quyền nhất định của bộ máy nhà nước, là cách thức giải quyết công việc của các cơ quan hành chính nhà nước có thẩm quyền trong mối quan hệ nội bộ của hành chính và giữa các cơ quan hành chính nhà nước với các tổ chức cá nhân, công dân. Cải cách thủ tục hành chính Cải cách thủ tục hành chính là một nội dung của cải cách hành chính. Để hiểu rõ khái niệm cải cách thủ tục hành chính thì trước hết chúng ta phải hiểu khái niệm về cải cách hành chính.
13 Trong Từ điển Hành chính thì “Cải cách hành chính là hệ thống những chủ trương, biện pháp tiến hành những sửa đổi, cải tiến mang tính cơ bản và có hệ thống nền hành chính nhà nước (hay còn gọi là nền hành chính công, nền hành chính quốc gia) về các mặt: Thể chế, cơ cấu tổ chức, cơ chế hoạt động, chế độ công vụ, quy chế công chức, năng lực, trình độ, phẩm chất phục vụ của đội ngũ công chức làm việc trong bộ máy đó” [38].Có thể hiểu như sau: Cải cách thủ tục hành chính là một quá trình nhằm khắc phục những hạn chế của hệ thống thủ tục hiện hành theo hướng đơn giản hóa, minh bạch hóa, công khai hóa, tạo ra sự chuyển biến căn bản trong quan hệ giải quyết công việc giữa các cơ quan hành chính nhà nước với tổ chức, công dân. Cải cách thủ tục hành chính là bộ phận của cải cách thể chế hành chính Nhà nước, nhằm xây dựng và thực thi thủ tục hành chính theo những chuẩn mực nhất định. Đơn giản, gọn nhẹ, vận hành nhịp nhàng, hoạt động theo đúng quy trình, quy phạm thích ứng với từng loại đối tượng, từng loại công việc, phù hợp với điều kiện thực tế và đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Cải cách thủ tục hành chính thực chất là cải biến, sửa đổi trình tự, cách thức thực hiện, hồ sơ và yêu cầu, điều kiện do cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền quy định để giải quyết một công việc cụ thể liên quan đến cá nhân, tổ chức” 1.
Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông Xuất phát của cơ chế một cửa chính là sự đối lập với cơ chế nhiều cửa. Nếu quy trình giải quyết công việc cho một giao dịch hành chính mà phải trải qua nhiều “cửa” thì sẽ làm cho quy trình bị chia cắt, đứt khúc, phức tạp và lãng phí. Với cách làm cũ, tổ chức và công dân phải đi lại nhiều lần khi có nhu cầu giải quyết công việc của mình. Mối quan hệ giữa nhà nước và công dân được tiến hành theo những thủ tục phức tạp, không rõ ràng và 14 không thống nhất giữa các cơ quan.
Sự tùy tiện trong cách tiếp nhận và giải quyết công việc như vậy làm cho người dân mất nhiều thời gian, sức lực và nhiều trường hợp vẫn không giải quyết được. Cơ chế một cửa được hình thành trong quá trình thực hiện mục tiêu cải cách hành chính, nhằm thay thế cho cơ chế nhiều cửa trong quan hệ và thủ tục giải quyết công việc giữa các cơ quan công quyền với công dân và tổ chức cũng như giữa các cơ quan công quyền với nhau. Hiện nay, đã có các khái niệm khác nhau về cơ chế một cửa trong các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước. Trong phạm vi của Luận văn, tác giả sử dụng khái niệm một cửa theo Nghị định số 61/2018/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2018 Chính phủ, Nghị định số 107/2021/NĐ-CP ngày 6/12/2021 sửa đổi, bổ sung về thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính.[5] Cải cách thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa liên thông là nâng tầm của cơ chế một cửa trong trách nhiệm phục vụ tổ chức, cá nhân.
Cơ chế một cửa chỉ góp phần đổi mới cách thức giải quyết công việc, cải cách TTHC ở từng cơ quan hành chính riêng lẻ. Trong khi đó, trên thực tế có nhiều loại hồ sơ hành chính có liên quan đến thẩm quyền giải quyết của nhiều cấp, nhiều cơ quan, phải qua nhiều đầu mối mới có kết quả cuối cùng. Vì vậy, nếu chỉ dừng ở việc thực hiện cơ chế một cửa thì trong nhiều trường hợp, tổ chức, cá nhân cũng phải tự mình cầm hồ sơ đi “gõ cửa” hết cơ quan này đến cơ quan khác. Xuất phát từ yêu cầu thực tế, cơ chế một cửa liên thông ra đời, đặt ra yêu cầu các cơ quan nhà nước có trách nhiệm phối hợp với nhau trong quy trình xử lý hồ sơ, không để tổ chức, công dân cầm hồ sơ đi từ cơ quan này tới cơ quan khác.
Tổ chức, cá nhân có nhu cầu chỉ phải nộp hồ sơ và nhận kết quả tại một đầu mối. Nghị định số 61/2018/NĐ-CP “Cơ chế một cửa liên thông là cách thức giải quyết công việc của cá nhân, tổ chức thuộc trách nhiệm, thẩm quyền của 15 nhiều cơ quan hành chính nhà nước cùng cấp hoặc giữa các cơ quan hành chính nhà nước các cấp trong việc công khai, hướng dẫn TTHC, tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả được thực hiện tại một đầu mối là Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của một cơ quan hành chính nhà nước”.[4] Cơ chế một cửa, một cửa liên thông tạo điều kiện cho việc củng cố sự chặt chẽ trong việc kiểm soát quá trình giải quyết công việc và chất lượng của sản phẩm đầu ra cho người dân thông qua một đầu mối. Sự chặt chẽ trong việc quản lý và giám sát tiến độ sẽ tạo điều kiện cho quá trình giải quyết công việc được thông suốt, công khai minh bạch, hạn chế đến mức thấp nhất sự chồng chéo, đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan hành chính. Về nguyên tắc, tất cả các TTHC đều phải được thực hiện thông qua cơ chế một cửa hoặc cơ chế một cửa liên thông.
Với những thủ tục đơn giản, do một cơ quan thực hiện, qua nhiều khâu, nhiều bộ phận khác nhau thực hiện thì cơ chế một cửa chính là phương thức để điều chỉnh, sắp xếp lại cách thức tổ chức công việc khoa học trong cơ quan. Còn đối với những TTHC phức tạp, đòi hỏi sự tham gia của nhiều cơ quan, nhiều cấp hành chính thì cơ chế một cửa liên thông không dừng lại là sự sắp xếp lại quy trình giải quyết công việc mà còn là sự phân công hợp lý giữa các cơ quan cùng tham gia thực hiện TTHC, và sự phân cấp trong quản lý hành chính nhà nước. Thực hiện thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại Ủy ban nhân dân cấp huyện 1. Địa vị pháp lý của Ủy ban nhân dân cấp huyện Hiến pháp 2013 và các văn bản quy phạm pháp luật về tổ chức bộ máy nhà nước như Luật Tổ chức Quốc hội, Luật Tổ chức Chính phủ, Luật Tổ chức Tòa án nhân dân, Luật Tổ chức Viện Kiểm sát nhân dân, Luật Tổ chức Chính quyền địa phương.
đã khẳng định địa vị pháp lý của các cơ quan nhà nước trong bộ máy nhà nước. Tổ chức bộ máy nhà nước là một vấn đề mang tính hiến định, nó được cấu thành từ hệ thống các cơ quan nhà nước có chức 16 năng, nhiệm vụ được quy định, có mối quan hệ, tác động qua lại để thực hiện nhiệm vụ chung của nhà nước nhằm đảm bảo “Nhà nước ta là Nhà nước pháp quyền XHCN của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân”.