Chương 1. Một số vấn đề lý luận về kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng trong các bệnh viện công. Thực trạng kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam. Một số đề xuất góp phần hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng tại Bệnh viện Đa khoa khu vực miền núi phía Bắc Quảng Nam.
Tổng quan tài liệu nghiên cứu Kiểm soát nội bộ là một trong những yếu tố quan trọng góp phần nâng cao chất lượng công tác quản lý nói chung và công tác cung ứng nói riêng tại mỗi đơn vị. Hiện nay, có rất nhiều nghiên cứu về kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện, trong quá trình thực hiện luận văn, tác giả đã nghiên cứu, tìm hiểu một số nghiên cứu liên quan đến lĩnh vực này, có thể kể đến như: Nguyễn Thiện Phong và Lê Thị Kim Ngọc (2020), để khám phá các yếu tố ảnh hưởng đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bệnh viện Hoàn Mỹ Cửu Long, dựa trên cơ sở nền tảng báo cáo COSO, nghiên cứu kết hợp phương pháp định tính và định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng, 5 bao gồm: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và truyền thông, hoạt động giám sát. Kết quả kiểm định Cronbach’s Alpha và phân tích nhân tích khám phá cho thấy thang đo sử dụng trong nghiên cứu là phù hợp. Kết quả phân tích hồi quy đa biến cho thấy cả năm yếu tố có tác động cùng chiều đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ.
Từ đó tác giải đề xuất các biện pháp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại đơn vị. Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh (2015), tác giả đã sử dụng phương pháp định lượng, phân tích mô hình hồi quy đa biến để đánh giá mối quan hệ giữa các nhân tố của hệ thống kiểm soát nội bộ theo INTOSAI đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại bệnh viện Chợ Rẫy, xác định nhân tố có sự ảnh hưởng mạnh nhất đến hệ thống kiểm soát nội bộ tại bệnh viện Chợ Rẫy là thông tin và truyền thông, từ đó đề xuất các giải pháp hoàn thiện hệ thống kiểm soát nội bộ tại đơn vị mà mình nghiên cứu. Với nghiên cứu “Đánh giá sự tác động của các yếu tố cấu thành đến tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên”, Trần Trịnh Như Quỳnh (2017) sử dụng phương pháp định lượng, phân tích mô hình hồi quy đa biến để đánh giá mối quan hệ nhân quả giữa các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ với tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát nội bộ tại các bệnh viện công lập này. Dùng phương pháp suy diễn từ kết quả mô hình hồi quy đa biến để bàn luận và kiến nghị các chính sách phù hợp nhằm nâng cao tính hữu hiệu của hệ thống kiểm soát tại các bệnh viện công lập tỉnh Phú Yên.
Trong nghiên cứu của mình, tác giả Nguyễn Hải Dương (2018) đã tổng hợp lý luận về hệ thống kiểm soát nội bộ, tìm hiểu đặc thù của đơn vị sự nghiệp y tế có thu tại Việt Nam, quan sát hoạt động thực tiễn của các nhân viên tham gia vào hoạt động kinh doanh khám chữa bệnh, sử dụng bảng câu 6 hỏi để khảo sát hệ thống kiểm soát nội bộ trong bệnh viện, tổng hợp, phân tích kết quả khảo sát để xác định những hạn chế tồn tại của hệ thống kiểm soát nội bộ đối với hoạt động kinh doanh dịch vụ, nguyên nhân tồn tại và đưa ra các giải pháp hoàn thiện. Tác giả Phạm Thu Hằng (2018), trong nghiên cứu“Hoàn thiện kiểm soát nội bộ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội”, đã kết hợp hai phương pháp nghiên cứu định tính và định lượng, đi sâu đánh giá các nhân tố ảnh hưởng đến công tác kiểm soát nội bộ của Bệnh viện Đại học Y Hà Nội, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Nghiên cứu của Trần Thị Như Ngọc (2019), bằng phương pháp định tính, nhấn mạnh vào phỏng vấn, tác giả đánh giá các yếu tố cấu thành hệ thống kiểm soát nội bộ tại Bệnh viện Đa khoa khu vực phía Nam Bình Thuận. Kết quả nghiên cứu đã cho thấy rằng bệnh viện chưa chú trọng đến các thành phần trong kiểm soát nội bộ quy trình mua sắm tài sản công đặc biệt môi trường kiểm soát.
Với kết quả nghiên cứu, tác giả đã đưa ra những giải pháp để nâng cao quy trình mua sắm tài sản công nhằm tăng chất lượng dịch vụ và hiệu quả hoạt động của Bệnh viện Đa khoa khu vực phía Nam Bình Thuận. Nhìn chung, các nghiên cứu trên đã trình bày, hệ thống cơ bản đầy đủ về lý luận kiểm soát nội bộ. Các nghiên cứu này về hệ thống kiểm soát nội bộ trong các đơn vị sự nghiệp y tế nói chung, gắn với từng đơn vị cụ thể. Trên cơ sở kế thừa lý luận chung, các tác giả đã đi sâu vào nghiên cứu thực trạng và đề xuất các giải pháp phù hợp nhằm hoàn thiện công tác kiểm soát nội bộ tại các đơn vị mình nghiên cứu.
Tuy nhiên, hiện nay chưa có nghiên cứu về kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng trong các bệnh viện công nói chung và kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng tại Bệnh viện Đa khoa KVMN phía Bắc nói riêng. Trên cơ sở đó, tác giả kế thừa hệ thống cơ sở lý luận kiểm soát nội bộ, 7 tham khảo các nghiên cứu trước đây, tác giả thực hiện đề tài “Kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng tại Bệnh viện Đa khoa KVMN phía Bắc Quảng Nam” nhằm góp phần nâng cao công tác kiểm soát nội bộ chu trình cung ứng tại đơn vị. 8 CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ CHU TRÌNH CUNG ỨNG TRONG CÁC BỆNH VIỆN CÔNG 1. KHÁI QUÁT CHUNG VỀ KIỂM SOÁT NỘI BỘ 1.
Khái niệm Hiện nay, có rất nhiều khái niệm về kiểm soát nội bộ trong các lĩnh vực khác nhau, có thể kể đến như sau: Theo COSO (2013) – The Committee of Sponsoring Organizations of the Tredway Commission là một Ủy ban được thành lập năm 1985 để hỗ trợ Ủy ban quốc qia về chống gian lận trên báo cáo tài chính của Mỹ, kiểm soát nội bộ được định nghĩa như sau:“Kiểm soát nội bộ là một tiến trình được thiết lập và vận hành bởi hội đồng quản trị, ban quản lý và các nhân sự khác, được thiết kế để đem lại một sự đảm bảo hợp lý đối với việc đạt được các mục tiêu hoạt động, mục tiêu báo cáo, và sự tuân thủ với các luật và quy định liên quan”. Định nghĩa này nhấn mạnh kiểm soát nội bộ trên các khía cạnh sau: Kiểm soát nội bộ hướng đến việc đạt được mục tiêu của tổ chức; Kiểm soát nội bộ là một tiến trình bao gồm các tác vụ và hoạt động được thực hiện liên tục, là phương tiện để đạt được mục đích hơn là mục đích cuối cùng; Kiểm soát nội bộ được thực hiện bởi con người: không đơn thuần là các chính sách và các hướng dẫn thực hiện thủ tục, các hệ thống, các khuôn mẫu mà là con người và các hành động được thực hiện ở các cấp trong cơ cấu tổ chức để thực hiện kiểm soát nội bộ, làm cho kiểm soát nội bộ có hiệu lực; Kiểm soát nội bộ đem lại sự đảm bảo ở mức độ hợp lý, tương đối chứ không phải tuyệt đối cho việc đạt được các mục tiêu của tổ chức; Kiểm soát nội bộ có thể thích ứng với các cơ cấu tổ chức khác nhau, kể cả các bộ phận khác nhau trong một tổ chức. 9 Khuôn khổ COSO (2013) đề xuất hệ thống kiểm soát nội bộ gồm 05 thành phần sau: Môi trường kiểm soát, đánh giá rủi ro, hoạt động kiểm soát, thông tin và trao đổi thông tin, hoạt động giám sát. Theo INTOSAI – The International Organization of Supreme Audit Institutions (Tổ chức quốc tế của các Cơ quan kiểm toán tối cao INTOSAI) hướng dẫn về các chuẩn mực kiểm soát nội bộ trong lĩnh vực công, ban hành năm 1992, cập nhật và thông qua năm 2004, kiểm soát nội bộ được định nghĩa: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình xử lý toàn bộ được thực hiện bởi nhà quản lý và các cá nhân trong tổ chức, quá trình này được thiết kế để phát hiện các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý để đạt được nhiệm vụ của tổ chức.
Sau đây là những mục tiêu cần đạt được: Thực hiện các hoạt động một cách có kỷ cương, có đạo đức, có tính kinh tế và hiệu quả; Thực hiện đúng trách nhiệm; Tuân thủ theo luật pháp và quy định hiện hành; Bảo vệ các nguồn lực chống thất thoát, sử dụng sai mục đích và tổn thất”. So với định nghĩa của báo cáo COSO, khía cạnh giá trị đạo đức trong hoạt động được thêm vào và nhấn mạnh. Bởi vì kỳ vọng rằng, nhân viên công chức phải phục vụ lợi ích công với sự công bằng và quản lý nguồn lực công một cách đúng đắn. Công dân phải nhận được sự đối đãi công bằng trên cơ sở pháp luật và công lý.
Các yếu tố cụ thể của hệ thống kiểm soát nội bộ: Môi trường kiểm soát; đánh giá rủi ro; hoạt động kiểm soát; thông tin và truyền thông; giám sát. Kiểm soát nội bộ là một quá trình không thể thiếu bị chi phối bởi người quản lý và các thành viên của đơn vị được thiết kế để giải quyết các rủi ro và cung cấp một sự đảm bảo hợp lý rằng trong quá trình theo đuổi sứ mệnh của đơn vị nhằm đạt được các mục tiêu tổng quát sau: - Thực hiện trật tự, giá trị đạo đức, kinh tế, hiệu lực và hiệu quả những hoạt động. 10 - Thực hiện nghĩa vụ trách nhiệm giải trình. - Tuân thủ luật pháp và những điều quy định.
- Bảo vệ nguồn lực, chống mất mát từ việc sử dụng sai, không đúng và những thiệt hại. Theo Luật Kế toán (2015) “Kiểm soát nội bộ là việc thiết lập và tổ chức thực hiện trong nội bộ đơn vị kế toán các cơ chế, chính sách, quy trình, quy định nội bộ phù hợp với quy định của pháp luật nhằm bảo đảm phòng ngừa, phát hiện, xử lý kịp thời rủi ro và đạt được yêu cầu đề ra.