phần mở đầu và kết luận, luận văn đƣợc kết cấu thành 3 chƣơng, bao gồm: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về kiểm soát chi thƣờng xuyên ngân sách Nhà nƣớc qua Kho bạc Nhà nƣớc. Chƣơng 2: Thực trạng kiểm soát chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc tại kho bạc nhà nƣớc Thanh Trì, Hà Nội. Chƣơng 3: Giải pháp hoàn thiện công tác kiểm soát chi thƣờng xuyên ngân sách nhà nƣớc tại Kho bạc Nhà nƣớc Thanh Trì, Hà Nội. 6 CHƢƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM SOÁT CHI THƢỜNG XUYÊN NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC 1.
KHÁI NIỆM VỀ CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC VÀ KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC 1.1 Khái niệm NSNN, chi NSNN Theo điều 4, chƣơng 1, Luật NSNN của Quốc hội nƣớc cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam số 83/2015/QH13 ban hành 25 tháng 6 năm 2015: “Ngân sách Nhà nước là toàn bộ các khoản thu, chi của Nhà nƣớc đã đƣợc cơ quan Nhà nƣớc có thẩm quyền quyết định và đƣợc thực hiện trong một năm để đảm bảo thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nƣớc”. Ngân sách nhà nƣớc là bộ phận chủ yếu của hệ thống tài chính quốc gia. NSNN có một số đặc điểm sau: - Hoạt động thu - chi của NSNN luôn gắn chặt với quyền lực kinh tế - chính trị của nhà nƣớc. Cụ thể hơn, quyền lực của Nhà nƣớc và các chức năng của nó là những nhân tố quyết định mức thu, mức chi, nội dung và cơ cấu thu chi của NSNN; - Hoạt động NSNN là hoạt động phân phối lại các nguồn tài chính, nó thể hiện ở hai lĩnh vực thu - chi của nhà nƣớc; Các hoạt động thu, chi NSNN đều đƣợc tiến hành dựa trên cơ sở những luật lệ.
Ví dụ nhƣ Luật thuế, các chế độ chi tiêu, tiêu chuẩn định mức chi tiêu. do Nhà nƣớc ban hành; - Nguồn tài chính chủ yếu hình thành nên NSNN đƣợc hình thành chủ yếu thông qua quá trình phân phối lần đầu và phân phối lại nguồn tài chính mà trong đó thuế là hình thức thu phổ biến; Chi NSNN là quá trình phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo những nguyên tắc nhất định cho việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà 7 nƣớc. Đó là quá trình phân phối lại các nguồn tài chính đã đƣợc tập trung vào NSNN và đƣa chúng đến mục đích sử dụng. Mặt khác, chi NSNN đƣợc thực hiện cho những nội dung, nhiệm vụ cụ thể vì thế nó không chỉ dừng lại trên các định hƣớng mà phải phân bổ cho từng mục tiêu, từng hoạt động và từng công việc thuộc chức năng của Nhà nƣớc.
Về mặt pháp lý, chi NSNN là những khoản chi tiêu do Chính phủ hay các pháp nhân hành chính thực hiện để đạt đƣợc các mục tiêu công ích. Về mặt bản chất, chi NSNN là hệ thống những quan hệ phân phối lại các khoản thu nhập phát sinh trong quá trình sử dụng có kế hoạch quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nƣớc nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nƣớc.2 Đặc điểm và vai trò của chi NSNN Về thực chất, chi NSNN chính là việc cung cấp các phƣơng tiện tài chính cho việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nƣớc. Chi NSNN có những đặc điểm nhƣ sau: - Quốc hội là cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nƣớc, là chủ thể duy nhất có quyền quyết định quy mô, nội dung, cơ cấu chi NSNN; quyết định tổng dự toán và tổng quyết toán NSNN; quyết định bổ sung, điều chỉnh chi NSNN giữa các nhiệm kì, kể cả tổng mức chi đối với những công trình lớn, đặc biệt quan trọng của quốc gia. - Chi NSNN đƣợc phân cấp cho chính quyền địa phƣơng quản lý và điều hành.
Ở Trung Ƣơng do Chính Phủ trực tiếp quản lý, ở các cấp chính quyền địa phƣơng do Uỷ Ban Nhân Dân quản lý dƣới sự giám sát của Hội Đồng Nhân Dân. - Chi NSNN gắn với hoạt động của bộ máy Nhà nƣớc và những nhiệm vụ kinh tế - xã hội, quy mô tổ chức bộ máy Nhà nƣớc, khối lƣợng, phạm vi nhiệm vụ do Nhà nƣớc đảm nhiệm. 8 - Các khoản chi NSNN đều là các khoản cấp phát mang tính không hoàn trả trực tiếp. - Chi NSNN đƣợc xem xét tính hiệu quả trên bình diện vĩ mô, tức là chi NSNN phải đƣợc xem xét một cách toàn diện và dựa vào mức độ hoàn thành các nhiệm vụ, chỉ tiêu kinh tế - xã hội mà Nhà nƣớc đề ra.
- Chi NSNN là một bộ phận của khối lƣợng tiền tệ trong lƣu thông vì vậy chi NSNN có tác động đến các thị trƣờng nhƣ giá cả, tỷ giá, lãi suất, lạm phát. - Chi NSNN là là bộ phận chủ yếu trong chi tiêu của Chính phủ. Vì vậy nó là công cụ của chính sách tài khóa đƣợc Nhà nƣớc sử dụng để quản lý vĩ mô nền kinh tế. - Chi NSNN luôn gắn với nhiệm vụ kinh tế, chính trị, xã hội mà Nhà nƣớc phải đảm nhận.
Mức độ và phạm vi chi tiêu NSNN phụ thuộc vào nhiệm vụ của Nhà nƣớc trong từng thời kỳ. Trong nền kinh tế thị trƣờng hiện nay, chi NSNN có vai trò rất quan trọng: - Là công cụ chủ yếu phân bổ nguồn lực tài chính quốc gia, điều chỉnh vĩ mô nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế: Chi NSNN không những nhằm đáp ứng nhu cầu chi tiêu và điều hành KT - XH của Nhà nƣớc, mà thông qua đó để điều chỉnh, điều tiết sản xuất. Thông qua chi ĐTPT, Nhà nƣớc sẽ cung cấp kinh phí đầu tƣ cho kết cấu hạ tầng, hình thành các doanh nghiệp thuộc các ngành then chốt, trên cơ sở đó tạo môi trƣờng và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế. Bên cạnh đó, việc cấp vốn hình thành các doanh nghiệp Nhà nƣớc là một trong những biện pháp căn bản để chống độc quyền và giữ cho thị trƣờng khỏi rơi vào tình trạng cạnh tranh không hoàn hảo.
- Là công cụ để điều tiết thị trường, ổn định giá cả và kiềm chế lạm phát: 9 Nền kinh tế thị trƣờng luôn tiềm ẩn trong đó sự mất ổn định kinh tế, tính chất chu kì kinh doanh và những biến động về giá cả, lạm phát. Những biến động đó tác động xấu đến sự phát triển KT - XH. Do đó, Nhà nƣớc thông qua việc thực hiện chi tiêu của Chính phủ và sử dụng các nguồn lực vật chất đƣợc hình thành từ ngân sách nhƣ: quỹ bình ổn giá; dự trữ quốc gia và các công cụ tài chính khác để góp phần kiềm chế lạm phát, ổn định giá cả từng mặt hàng cũng nhƣ mức giá chung. - Là công cụ điều chỉnh thu nhập, góp phần thực hiện công bằng và tiến bộ xã hội: Nhà nƣớc sử dụng NSNN để trợ cấp cho các đối tƣợng có thu nhập thấp, các đối tƣợng chính sách hay đầu tƣ vào phúc lợi công cộng.
Các biện pháp này có tác dụng làm giảm chênh lệch quá mức về thu nhập và mức độ thụ hƣởng phúc lợi xã hội, rút ngắn khoảng cách giàu - nghèo. Ngoài ra, thông qua chi ngân sách cho các hoạt động nhƣ y tế, giáo dục đào tạo, chi hỗ trợ chính sách dân số, chính sách việc làm…để nâng cao chất lƣợng nguồn nhân lực và đổi mới cơ cấu dân số, lao động trong xã hội. Nhƣ vậy, xét dƣới góc độ KT - XH, chi NSNN có vai trò to lớn. Nếu tổ chức hoạt động chi NSNN đúng đắn, phù hợp sẽ có tác động tích cực tới các quá trình KT- XH.
Ngƣợc lại, sẽ gây nên những tác động tiêu cực, kìm hãm sự phát triển KT- XH.3 Phân loại chi NSNN Phân loại chi NSNN là sự sắp xếp các khoản chi NSNN vào các nhóm theo những tiêu thức nhất định. Việc phân loại chi NSNN có ý nghĩa rất quan trong trong công tác quản lý chi NSNN. Qua việc phân loại chi NSNN sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả, phù hợp với đặc điểm, tính chất của từng khoản chi. Theo Luật NSNN hiện hành, các nội dung chi đƣợc phân loại cụ thể nhƣ sau: - Chi đầu tư phát triển: Là những khoản chi để đầu tƣ các công trình kết 10 cấu hạ tầng KT- XH (hay còn gọi là chi ĐTXDCB); đầu tƣ và hỗ trợ phát triển sản xuất; bổ sung dự trữ nhà nƣớc và một số các khoản chi khác theo quy định pháp luật nhằm mục tiêu ổn định và thúc đẩy tăng trƣởng kinh tế.
Trên ý nghĩa đó, các khoản chi này đƣợc coi là chi tích lũy. - Chi thường xuyên: Là các khoản chi gắn với việc thực hiện nhiệm vụ thƣờng xuyên của Nhà nƣớc về quản lý kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng. Về đặc điểm, đại bộ phận các khoản chi thƣờng xuyên mang tính chất tiêu dùng xã hội nên đƣợc gọi là chi tiêu dùng. Phạm vi và mức độ chi thƣờng xuyên của NSNN gắn chặt với cơ cấu tổ chức bộ máy Nhà nƣớc và sự lựa chọn của Nhà nƣớc trong việc cung ứng hàng hoá công.
Nếu bộ máy Nhà nƣớc quản lý gọn, nhẹ, hoạt động có hiệu quả thì chi thƣờng xuyên đƣợc giảm nhẹ và ngƣợc lại. Ngoài ra, còn có các nội dung chi khác nhƣ chi trả nợ gốc và lãi các khoản tiền vay, chi viện trợ, chi cho vay theo quy định của pháp luật, chi bổ sung quỹ dự trữ tài chính, chi bổ sung cho ngân sách cấp dƣới… 1.4 Nội dung chi NSNN và chi thường xuyên NSNN * Nội dung chi NSNN Theo chức năng nhiệm vụ, chi ngân sách nhà nƣớc gồm: Căn cứ vào mục đích chi tiêu chia nội dung chi thành: - Chi tích lũy: Chi cho tăng cƣờng cơ sở vật chất nhƣ đầu tƣ phát triển kinh tế và kết cấu hạ tầng, trong đó phần lớn là xây dựng cơ bản. - Chi tiêu dùng: Không tạo ra sản phẩm vật chất để xã hội sử dụng trong tƣơng lại: Chi bảo đảm xã hội, bao gồm: - Chi về giáo dục, y tế, công tác dân số, khoa học và công nghệ, văn hóa-xã hội, thông tin đại chúng, thể thao, lƣơng hƣu và trợ cấp xã hội, các khoản liên quan đến can thiệp của chính phủ vào các hoạt động 11 kinh tế, quản lý hành chính, an ninh, quốc phòng, các khoản chi khác, dự trữ tài chính, trả nợ vay nƣớc ngoài, lãi vay nƣớc ngoài.