Chương 1 Luật NSNN số 83/2015/QH13, NSNN có hai nội dung cơ ản là Thu NSNN và Chi NSNN. Khái niệm và đặc điểm của chi Ngân sách Nhà nƣớc Chi NSNN là hoạt động phân phối và sử dụng quỹ NSNN theo những trình tự và thủ tục luật định, trên cơ sở dự toán chi NSNN đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, nhằm thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. 11 Chi NSNN có các đặc điểm cơ ản sau [23]: Th nhất, chi NSNN phải đảm bảo các hoạt động của Nhà nước trên tất cả các lĩnh vực, nhưng nguồn thu NSNN có được trong từng năm, từng thời kỳ lại có hạn. Nhà nước không thể bao cấp tràn lan qua NSNN, mà phải tập trung nguồn tài chính vào phạm vi đã hoạch định để giải quyết các vấn đề lớn của đất nước.
Th hai, hiệu quả chi NSNN khác với hiệu quả sử dụng vốn của các doanh nghiệp, nó được xem x t trên tầm vĩ mô và là hiệu quả kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng … dựa vào việc hoàn thành các mục tiêu kinh tế, xã hội, an ninh, quốc phòng … mà các khoản chi NSNN đảm nhận. Th ba, các khoản cấp phát từ NSNN cho các cấp, các ngành, cho các hoạt động văn hóa, xã hội, giúp đỡ người nghèo … không phải trả giá hoặc hoàn lại cho Nhà nước. Tuy vậy, NSNN cũng có những khoản chi cho việc thực hiện các chương trình mục tiêu, mà thực chất là cho vay ưu đãi có hoàn trả gốc và lãi với lãi suất thấp hoặc không có lãi (như xóa đói giảm nghèo …). Th tư, chi NSNN là một bộ phận cấu thành luồng vận động tiền tệ và nó gắn liền với sự vận động của các phạm trù giá trị khác, như: giá cả, tiền lương, tỷ giá hối đoái… 1.
Vai trò và phân loại của chi Ngân sách Nhà nƣớc Vai trò của chi NSNN là điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy phát triển kinh tế; giải quyết các vấn đề xã hội; góp phần ổn định thị trường chống lạm phát; tăng cường sức mạnh của bộ máy Nhà nước, bảo vệ đất nước và giữ gìn an ninh. Hệ thống chi NSNN rất đa dạng, phong phú và luôn biến động theo tình hình kinh tế xã hội và chính trị. Phân loại các khoản chi NSNN là việc sắp xếp, nhóm các khoản chi NSNN có cùng tính chất, cùng mục đ ch thành các loại chi. Có nhiều tiêu ch để phân loại các khoản chi NSNN theo những mục tiêu quản lý nhất định.[23] 12 Căn cứ vào tính chất các khoản chi: - Chi thường xuyên: là khoản chi có t nh đều đặn, liên tục gắn với nhiệm vụ thường xuyên của Nhà nước về quản lý kinh tế - xã hội.
Chi thường xuyên được mang tính ổn định, phần lớn mang tính tiêu dùng và gắn với cơ cấu tổ chức có tính bắt buộc. - Chi đầu tư phát triển: là khoản chi nhằm tạo cơ sở vật chất kỹ thuật, có tác dụng làm cho nền kinh tế tăng trưởng và phát triển. Thông thường là các khoản chi lớn, không mang tính ổn định, có tính tích luỹ, gắn với mục tiêu, định hướng, qui mô vốn phụ thuộc vào nguồn, tính chất… - Chi trả nợ, viện trợ: bao gồm các khoản chi để Nhà nước thực hiện nghĩa vụ trả nợ các khoản đã vay trong nước, vay nước ngoài khi đến hạn và các khoản chi làm nghĩa vụ quốc tế. - Chi dự trữ Nhà nước: chi dự trữ quốc gia là nhiệm vụ chi của NSNN để mua hàng dự trữ theo quy định của pháp luật về dự trữ quốc gia.
Căn cứ vào chức năng và nhiệm vụ: - Chi tích ũy: là những khoản chi làm tăng cơ sở vật chất và tiềm lực cho nền kinh tế, tăng trưởng kinh tế; là những khoản chi đầu tư phát triển và các khoản t ch lũy khác. - Chi tiêu dùng: là các khoản chi không tạo ra sản phẩm vật chất để tiêu dùng trong tương lai; ao gồm chi cho hoạt động sự nghiệp, quản lý hành ch nh, quốc phòng, an ninh. KIỂM SOÁT CHI NGÂN SÁCH NHÀ NƢỚC QUA KHO BẠC NHÀ NƢỚC TRONG ĐIỀU KIỆN THỰC HIỆN DỊCH VỤ CÔNG TRỰC TUYẾN 1. Dịch vụ công trực tuyến trong hoạt động kiểm soát chi Ngân sách Nhà nƣớc qua Kho bạc Nhà nƣớc 13 1.
Khái niệm Dịch vụ công trực tuyến DVCTT là các dịch vụ hành chính công và các dịch vụ này được cung cấp cho người dân, doanh nghiệp trên môi trường mạng máy t nh, thường là mạng internet. Cùng với việc sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông, DVC điện tử đáp ứng mọi nhu cầu của công dân và tổ chức 24/7 ở bất cứ nơi đâu có kết nối mạng internet, vượt qua mọi rào cản địa lý, không gian và thời gian. Như vậy, DVCTT được hiểu như sau: DVCTT là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho các tổ ch c, cá nhân trên môi trường mạng.[09] Nhà nước quy định các mức độ DVCTT của cơ quan hành ch nh nhà nước cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, gồm bốn mức: từ mức độ 1 đến mức độ 4, cụ thể [08]: - DVCTT m c độ 1: là dịch vụ ảo đảm cung cấp đầy đủ các thong tin về thủ tục hành ch nh và các van ản có lien quan quy định về thủ tục hành ch nh đó. - DVCTT m c độ 2: cung cấp đầy đủ thông tin cơ ản như DVCTT mức độ 1; cung cấp đầy đủ các biểu mẫu điện tử không tương tác và cho ph p người sử dụng tải về để khai báo sử dụng; hồ sơ in từ biểu mẫu điện tử không tương tác sau khi khai áo theo quy định được chấp nhận như đối với hồ sơ khai báo trên các biểu mẫu giấy thông thường.
- DVCTT m c độ 3: là DVCTT mức đọ 2 và cho ph p nguời sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu van ản đến co quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ so và cung cấp dịch vụ đuợc thực hiẹn tren moi truờng mạng. Viẹc thanh toán lẹ ph (nếu có) và nhạn kết quả đuợc thực hiẹn trực tiếp tại co quan, tổ chức cung cấp dịch vụ. 14 - DVCTT m c độ 4: là DVCTT mức đọ 3 và cho ph p nguời sử dụng thanh toán lẹ ph (nếu có) đuợc thực hiẹn trực tuyến.
Viẹc trả kết quả có thể đuợc thực hiẹn trực tuyến, gửi trực tiếp hoạc qua đuờng uu điẹn đến nguời sử dụng. DVC trực tuyến KBNN là dịch vụ hành chính công thực hiện các thủ tục hành chính thuộc lĩnh vực KBNN, do KBNN cung cấp cho các tổ chức, cá nhân bằng phương thức giao dịch điện tử qua Trang thông tin DVC KBNN. Đặc điểm Dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước DVCTT của KBNN có một số đặc điểm sau [04]: - Mọi giao dịch, tiếp nhận, xử lý hồ sơ, chứng từ, hỗ trợ giữa công chức KBNN với các đơn vị giao dịch đều được thực hiện trên môi trường mạng. - Ít hạn chế về mặt không gian: Mọi tổ chức, cá nhân có thể thực hiện các thủ tục DVCTT KBNN ở bất kỳ nơi đâu, miễn là nơi đó có máy t nh kết nối mạng internet.
- Không hạn chế về thời gian: DVCTT KBNN có thể cung cấp ở mọi thời điểm (24/24h và 7/7 ngày), không phụ thuộc vào ngày nghỉ, lễ và giờ hành chính. - Các đơn vị giao dịch sử dụng DVCTT KBNN qua Trang thông tin dịch vụ công của BNN được xác định danh tính bằng tài khoản đăng nhập do KBNN cấp. Để được cấp tài khoản, các đơn vị giao dịch thông báo tham gia trên trang DVCTT BNN và được KBNN chấp thuận. - Các hồ sơ, chứng từ được gửi đi, tiếp nhận trên trang DVCTT KBNN được thể hiện dưới dạng điện tử.
Việc ký duyệt các chứng từ điện tử và xác nhận giá trị pháp lý của các hồ sơ điện tử bằng hình thức sử dụng chứng thư số để ký số. Chứng thư số phải đang còn hiệu lực do tổ chức cung cấp dịch vụ chứng thực chữ ký số công cộng cấp hoặc được cấp bởi tổ chức cung cấp dịch 15 vụ chứng thực chữ ký số chuyên dùng phục vụ các cơ quan thuộc hệ thống chính trị. - Chữ ký số được thông áo để ký chức danh chủ tài khoản hoặc người được ủy quyền (chữ ký thứ nhất); kế toán trưởng hoặc phụ trách kế toán hoặc người được ủy quyền (chữ ký thứ hai) của các các đơn vị giao dịch trên các chứng từ chuyển qua Trang thông tin DVC của KBNN là chữ ký số tương ứng của người đã được KBNN chấp thuận ký chữ ký thứ nhất và ký chữ ký thứ hai trong hồ sơ mở và sử dụng tài khoản của các các đơn vị giao dịch. - Kết quả xử lý hồ sơ được BNN thông áo vào địa chỉ thư điện tử của các các đơn vị giao dịch đã thông áo với BNN để sử dụng cho tất cả các giao dịch trên Trang thông tin DVC KBNN.
- DVCTT BNN đang được cung cấp ở cấp độ 4. Mặc dù hệ thống DVCTT KBNN không tính và thu phí mọi dịch vụ giao dịch chi NSNN đối với các ĐVSDNS, chủ đầu tư. Nhưng hiện nay, KBNN không tính và thu phí đối với các giao dịch chi NSNN nên không phát sinh khâu thanh toán trực tuyến các chi phí dịch vụ. Tuy không phải thanh toán trực tuyến các chi phí dịch vụ nhưng trong thủ tục GDĐT các yêu cầu thanh toán, KBNN vẫn phải thực hiện thanh toán chuyển tiền trực tuyến các khoản chi theo yêu cầu của các đơn vị.
Vai trò Dịch vụ công trực tuyến của Kho bạc Nhà nước Thực hiện DVCTT BNN được xem là khâu quan trọng, then chốt trong tiến trình hiện đại hóa hoạt động BNN. DVCTT BNN đóng vai trò là một “Cơ quan điện tử” của KBNN, thực hiện tiếp nhận và gửi kết quả xử lý dịch vụ đến các tổ chức, cá nhân trên môi trường điện tử; cung cấp thông tin về trạng thái hiện tại của quy trình xử lý của dịch vụ, cho biết hồ sơ đang ở khâu nào trong quy trình xử lý, loại hồ sơ cần bổ sung, ngày nhận kết quả; tiếp nhận ý kiến, đánh giá của các tổ chức, cá nhân về dịch vụ; là kênh để 16 tuyên truyền và hướng dẫn các thủ tục hành chính công thuộc lĩnh vực KBNN đến các tổ chức, cá nhân.