Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ LỊCH SỬ LẬP PHÁP VIỆT NAM VỀ KIỂM SÁT VIỆC ÁP DỤNG CÁC BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ 1.1 Khái niệm, căn cứ áp dụng biện pháp ngăn chặn 1. Khái niệm các biện pháp ngăn chặn Theo Từ điển Tiếng Việt, “Biện pháp là cách làm, cách giải quyết một vấn đề cụ thể”. Ngăn chặn là “chặn lại từ đầu, không để cho gây tác hại” [4]. Trong giới luật học của Việt Nam, có rất nhiều ý kiến về BPNC.
Theo tác giả Nguyễn Duy Lãm thì: “Biện pháp ngăn chặn là biện pháp có tính chất cưỡng chế do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác nhằm phòng ngừa, ngăn chặn hành vi cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc thi hành án, bảo đảm thực hiện đúng đắn các nhiệm vụ của tố tụng hình sự” [14, Tr. Theo đó các BPNC là các biện pháp có tính cưỡng chế đối với người phạm tội, nhằm ngăn ngừa các hành vi gây khó khăn, trở ngại cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Tuy nhiên, theo học viên thì ý kiến này chưa nêu đủ các đối tượng và cơ quan có thẩm quyền áp dụng BPNC cũng như mục đích áp dụng. Theo tác giả Bình Nguyên thì: “Những biện pháp ngăn chặn được quy định trong hoạt động tố tụng hình sự là những biện pháp do luật định được thực hiện khi xét thấy cần thiết nhằm ngăn chặn người phạm tội đang có hành vi thực hiện tội phạm hoặc tiếp tục thực hiện tội phạm, loại trừ việc bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và ngăn ngừa bị can, bị cáo, người bị kết án trốn tránh để bảo đảm cho việc thi hành án được thực hiện”[16, Tr.
Theo học viên thì khái niệm này đã nêu rõ được mục đích và sự cần thiết của các BPNC, nhằm phân biệt với các biện pháp cưỡng chế khác như: khám xét người, 9 dẫn giải người làm chứng, kê biên tài sản,…tuy nhiên, cũng chưa nêu rõ chủ thể nào có quyền áp dụng BPNC. Cũng có ý kiến cho rằng “Biện pháp ngăn chặn là một loại biện pháp cưỡng chế do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án áp dụng đối với người bị tình nghi phạm tội, đối với bị can, bị cáo và cả với người bị án khi các cơ quan này có căn cứ cho rằng những người này sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hoặc sẽ tiếp tục phạm tội” [38, Tr. So với các khái niệm đã nêu, học viên nhận thấy khái niệm này đã tiếp cận đầy đủ hơn nội dung của các BPNC, nêu rõ được các cơ quan có thẩm quyền áp dụng, đối tượng và căn cứ áp dụng BPNC. Tuy nhiên, chưa nêu đầy đủ về các chủ thể có thẩm quyền áp dụng BPNC do pháp luật quy định.
Nhìn chung, các quan điểm trên đã nêu lên được một số khía cạnh về khái niệm BPNC nhưng chưa đưa ra được khái niệm đầy đủ, khoa học chứa đựng được tất cả các đặc điểm của BPNC. Do vậy, để có cơ sở cho việc đưa ra khái niệm chính xác về BPNC chặn, cần phải tìm hiểu các dấu hiệu đặc trưng của nó và thể hiện ở nội dung, căn cứ, mục đích áp dụng, người có thẩm quyền áp dụng và đối tượng có thể bị áp dụng BPNC. Theo học viên, khái niệm biện pháp ngăn chặn như sau: Biện pháp ngăn chặn là những biện pháp cưỡng chế do pháp luật tố tụng hình sự quy định gồm: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm và tạm hoãn xuất cảnh do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án hoặc do những người có thẩm quyền hay bất kỳ ai được luật tố tụng hình sự quy định và cho phép có quyền áp dụng đối với bị can, bị cáo hoặc người chưa bị khởi tố hình sự nhằm kịp thời ngăn chặn những hành vi nguy hiểm cho xã hội của họ, ngăn ngừa họ tiếp tục phạm tội, hoặc có những hành động gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Mục đích của việc áp dụng biện pháp ngăn chặn Theo quy định tại Điều 109 BLTTHS 2015 (Điều 79 BLTTHS 2003), thì các BPNC được áp dụng nhằm kịp thời ngăn chặn tội phạm hoặc bảo đảm cho 10 công tác điều tra, truy tố, xét xử và bảo đảm thi hành án.
Như vậy, việc áp dụng BPNC nhằm các mục đích sau đây: Một là, ngăn ngừa tội phạm, bao gồm: - Ngăn chặn không cho tội phạm đang được chuẩn bị xảy ra; - Ngăn chặn không cho hành vi phạm tội đang được thực hiện tiếp tục tiếp diễn; - Ngăn ngừa người phạm tội có thể thực hiện tội phạm mới như trường hợp bắt giữ người phạm tội đang đe dọa trả thù những người biết về sự việc phạm tội của họ, nhằm mục đích ngăn không để cho người đó phạm tội mới với hành vi trả thù. Hai là, đảm bảo cho công tác điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án Các BPNC được áp dụng bảo đảm các điều kiện pháp lý cho hoạt động tố tụng hình sự theo đúng các quy định của pháp luật (bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo, bị án trong hoạt động tố tụng khi cần thiết). Cũng như bảo đảm tính chính xác, khách quan của hoạt động tố tụng (bảo đảm bí mật điều tra, không cho bị can, bị cáo có điều kiện thông cung)… Tóm lại, mục đích của BPNC trong tố tụng hình sự là ngăn chặn tội phạm và bảo đảm cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, bảo đảm thi hành án như Điều 109 BLTTHS 2015 (và Điều 79 BLTTHS 2003) đã quy định. Về căn cứ áp dụng các biện pháp ngăn chặn Các BPNC trong tố tụng hình sự do CQĐT, VKS, TA có thể áp dụng trong suốt quá trình điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án.
Đối với một số BPNC được áp dụng trước giai đoạn điều tra hoặc để phục vụ cho công tác điều tra ban đầu thì ngoài những người có thẩm quyền trong cơ quan điều tra áp dụng còn có một số người không thuộc cơ quan điều tra áp dụng như: Người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; Người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; Người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng (Điều 81 BLTTHS 11 2003) và bổ sung thêm những người có thẩm quyền sau: Đồn trưởng Đồn biên phòng, Chỉ huy trưởng Biên phòng Cửa khẩu cảng, Chỉ huy trưởng Bộ đội biên phòng tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương, Cục trưởng Cục trinh sát biên phòng Bộ đội biên phòng, Cục trưởng Cục phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống ma túy và tội phạm Bộ đội biên phòng; Tư lệnh vùng lực lượng Cảnh sát biển, Cục trưởng Cục nghiệp vụ và pháp luật lực lượng Cảnh sát biển, Đoàn trưởng Đoàn đặc nhiệm phòng, chống tội phạm ma túy lực lượng Cảnh sát biển; Chi cục trưởng Chi cục Kiểm ngư vùng và trong trường hợp phạm tội quả tang, người trốn truy nã thì người nào cũng có thẩm quyền áp dụng (điểm b khoản Điều 110 BLTTHS năm 2015 mới bổ sung thêm). Căn cứ áp dụng các BPNC là những cơ sở pháp lý do BLTTHS quy định cho phép người có thẩm quyền áp dụng lần đầu tiên đối với bị can và trong một số trường hợp đối với người chưa bị khởi tố bị can một trong những BPNC được quy định trong BLTTHS. Theo quy định tại Điều 109 BLTTHS 2015 có các BPNC: Giữ người trong trường hợp khẩn cấp; bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền để bảo đảm và tạm hoãn xuất cảnh. Theo đó thì căn cứ áp dụng BPNC bao gồm ba căn cứ sau: Một là, khi cần phải kịp thời ngăn chặn tội phạm.
Kịp thời ngăn chặn tội phạm, là ngăn ngừa, không cho tội phạm đang được chuẩn bị xảy ra hoặc không cho tội phạm đang được thực hiện tiếp tục thực hiện. Do vậy, căn cứ này thường được áp dụng đối với người chưa bị khởi tố bị can trong những trường hợp sau: - Khi có căn cứ cho rằng người đó đang chuẩn bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, tức là người đó tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện cần thiết khác để thực hiện tội phạm gây nguy hại rất lớn hoặc đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên 07 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. 12 - Khi một người đang thực hiện một tội phạm, tức là hành vi phạm tội của người đó đã bắt đầu được thực hiện nhưng chưa kết thúc. Ngăn chặn tội phạm trong trường hợp này là để ngăn cản không cho người phạm tội thực hiện đến cùng hành vi phạm tội của mình.
Hai là, khi có căn cứ, chứng tỏ người phạm tội sẽ gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án. Kịp thời bắt giữ người phạm tội có ý nghĩa rất lớn đối với việc điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án, nếu không kịp thời bắt giữ, người phạm tội có thể trốn, tiêu hủy, thay đổi chứng cứ vụ án, xóa bỏ các dấu vết của vụ án,… và việc xác định sự thật của vụ án sẽ khó khăn, phức tạp. - Căn cứ này có thể áp dụng trước khi khởi tố vụ án, hay trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử và đảm bảo thi hành án. Do vậy, đối tượng áp dụng khá rộng, bao gồm: + Chưa khởi tố bị can, đây là căn cứ để giữ và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp, quy định tại điểm a khoản 1 Điều 110 BLTTHS 2015 (điểm a, Khoản 1 Điều 81 BLTTHS 2003) + Khi người cùng thực hiện tội phạm, bị hại hoặc người có mặt tại nơi xảy ra tội phạm chính mắt nhìn thấy và xác nhận đúng là người đã thực hiện tội phạm mà xét thấy cần ngăn chặn ngay việc người đó trốn, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 110 BLTTHS 2015 (điểm b khoản 1 Điều 81 BLTTHS 2003).