mở đầu cho giai đoạn xét xử vụ án hình sự, thì tại phiên toà sơ thấm lời luận tội của KSV (hình thức pháp lý thể hiện quan điểm của VKS về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án) là sự mở dau cuộc tranh luận, đối đáp giữa các chủ thé của bên buộc tội và bên bào chữa. Ngoài việc trình bày lời luận tội, KSV còn phải đưa ra những chứng cứ, lập luận của mình đề đáp lại ý kiến của những người tham gia tranh luận về nội dung luận tội và các van dé cần giải quyết trong vụ án. Theo Dai Từ điển TiếngViệt thì đối dap là “trd /ởi lai” [11, tr. Như vậy, trong TTHS “đối đáp” được hiểu “/a các quan điểm, luận cứ của Kiểm sát viên trong việc trả lời đối với các ý kiến của bị cáo, người bào chữa, người bị hại, người tham gia to tung về luận tội; là sự trả lời dap lại ý kiến giữa những người tham gia tranh luận ` [9, tr.275] Theo quy định tại Điều 218 và 247 BLTTHS thì KSV phải đáp lại tất cả ý kiến của những người tham gia tranh luận đồng thời phải đưa ra những chứng cứ, lập luận của mình dé phản bác ý kiến không có căn cứ của bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tô tụng khác về lời luận tội (hoặc quan điêm về việc giải quyét vụ án) của VKS.
Nếu qua tranh luận mà thấy cần xem xét thêm chứng cứ hoặc theo đề nghị của KSV, những người tham gia tranh luận hoặc Chủ tọa phiên tòa thấy 10 cần phải quay trở lại việc xét hỏi thi HDXX quyết định trở lại việc xét hỏi sau đó việc tranh luận lại được thực hiện bình thường. Tuy nhiên, dé tránh kéo dài thời gian không cần thiết, Chủ tọa phiên tòa có thể lưu ý đối với KSV và những người tham gia tranh luận chỉ tranh luận những van dé mới phát sinh sau khi xét hỏi thêm. Nếu những người tham gia tranh luận không còn ý kiến gì khác, Chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần tranh luận và cho phép bị cáo được nói lời sau cùng. Như vậy, có thể nói răng phần tranh luận tại phiên toà sơ thâm và phúc thâm được kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng tức là lời nói sau cùng của bi cáo không thuộc phan tranh luận tại phiên toà.
Theo quy định tại Điều 280 và Điều 297 của BLTTHS, thì khi xét thay cần thiết TA phải triệu tập người bị kết án, người bào chữa và có thể triệu tập những người có quyên lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị tham gia phiên tòa giám đốc thâm (tái thẩm). Nếu đã triệu tập thì họ lại trình bày ý kiến trước khi đại diện VKS phát biểu. Thực tiễn xét xử ở nước ta cho thấy các TA hầu như không triệu tập người bị kết án, người bào chữa và đương sự tham gia phiên toà giám đốc thầm hoặc tái thẩm. Như vậy, có thể rút ra một số nhận xét sau: 1) Tranh luận là một phần (bộ phận), một thủ tục bắt buộc của phiên toà và có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với quá trình xét xử vụ án.
Các quan điểm khác nhau của các bên về vụ án giúp cho HDXX có thể xác định được day đủ và toàn diện các tình tiết khách quan của vụ án dé có phán quyết đúng dan, chính xác về các van đề cần giải quyết trong vụ án. 2) Hoạt động tranh luận tại phiên toà được bắt đầu băng việc KSV trình bày lời luận tội (ở phiên toà sơ thẩm) hoặc quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án (ở phiên toà phúc thâm) và kết thúc trước khi bị cáo nói lời sau cùng. 11 3) Y nghĩa và nội dung của tranh luận chỉ thé hiện một cách đầy đủ nhất tại phiên toà sơ thâm. Ở phiên toà phúc thâm ý nghĩa và nội dung của nó bị hạn chế hơn (do phúc thâm là cấp xét xử lại vụ án).
Còn ở phiên toà giám đốc thâm (tái thẩm) thì tranh luận hoàn toàn mang tính chất phiến diện (một chiều) do tính chất của nó là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Căn cứ vào tính chất xét xử vụ án hình sự, có thê phân tranh luận tại phiên tòa thành: Tranh luận tại phiên tòa sơ thấm; Tranh luận tại phiên tòa phúc thâm và tranh luận tại phiên tòa giám đốc thâm (tái thâm). Mục đích, phạm vi và nội dung tranh luận tại phiên tòa hình sự * Mục đích: Mục đích của tranh luận tại PTHS là nhằm để tìm ra sự thật khách quan của vụ án. Dưới sự điều khiển của Chủ tọa phiên tòa, trên cơ sở các chứng cứ đã được kiểm tra công khai tại phiên toà và các quy định của pháp luật, các chủ thể thuộc bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra quan điểm, lập luận của mình về các tình tiết khách quan và hướng giải quyết vụ án nhằm thuyết phục HDXX chấp nhận đề nghị của mình va bác bỏ quan điểm, lập luận của phía bên kia.
Như vậy, có thể thấy răng tranh luận tại PTHS có ý nghĩa và vai trò rất lớn đối với quá trình xét xử vụ án thể hiện ở một số điểm sau đây: - Tranh luận tại phiên tòa thể hiện không chỉ tính minh bạch, công khai và dân chủ của TTHS mà cả bản chất dân chủ của Nhà nước XHCN của dan, do dân và vì dân. - Việc tranh luận, đối đáp của KSV với bị cáo, người bao chữa và những người tham gia tố tụng khác sẽ làm cho phiên tòa khách quan, sống động hon, góp phần xóa bỏ tinh trạng xét xử theo kiểu “án bỏ tui’ đã tồn tại 15 trước đây mà dư luận xã hội đã từng phê phán, đồng thời nâng cao uy tín của VKS, TA cũng như củng cố niềm tin của nhân dân vào công ly. * Phạm vỉ: Như đã trình bày ở trên, hoạt động tranh luận, đối đáp của các chủ thê thuộc bên buộc tội và bào chữa tại PTHS được giới hạn về mặt không gian và thời gian. Vé mặt không gian, hoạt động tranh luận các chủ thé tại PTHS chỉ có thê được thực hiện tại phiên tòa xét xử vụ án hình sự.
Về mặt thời gian thì thủ tục tranh luận được bắt đầu ngay sau khi Chủ toạ phiên toà tuyên bố kết thúc phần xét hỏi tiếp đến KSV trình bày lời luận tội (ở phiên tòa sơ thâm) hoặc phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án (tại phiên tòa phúc thâm, giám đốc thẩm, tái thâm). * Nội dung: Nội dung tranh luận tại PTHS bao gồm toàn bộ các quan điểm, lập luận về các vấn đề cần giải quyết trong vụ án hình sự mà các chủ thé của bên buộc tội và bên bào chữa đưa ra tại phiên toà đề nghị HDXX chap nhận hoặc bác bỏ khi ra phán quyết về vụ án. Phụ thuộc vào tính chất xét xử vụ án hình sự (sơ thâm, phúc thâm, giám đốc thâm, tái thâm) mà nội dung tranh luận này có thé khác nhau. Nội dung tranh luận của các chủ thể tại phiên toà sơ thấm hình sự cũng xoay quanh các van đề cần chứng minh trong vụ án được quy định tại Điều 63 BLTTHS bao gồm: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không, thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người thực hiện hành vi phạm tội, có lỗi hay không có lỗi, do cô ý hay vô ý, có năng lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình tiết tăng nặng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và những đặc điểm nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra.
Tuy nhiên, tại phiên toà KSV có thé thay đổi nội dung buộc tội, tức là kết luận khác (so với quyết định truy tố) về nội dung, tính chất của hành vi 13 phạm tội, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, vai trò của bi cáo trong vụ án, nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nguyên nhân điều kiện phạm tdi,. và đề xuất hướng giải quyết cụ thé về vu án. Nội dung luận tội này của KSV (theo hướng có lợi cho bi cáo) là cơ sở dé xác định giới han xét xử vụ án tai phiên toa. Vì vậy, nội dung tranh luận, đối đáp của người bào chữa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác chủ yếu tập trung vào các nội dung lời luận tội của KSV trình bày tại phiên toà.
Nội dung tranh luận tại phiên tòa phúc thâm phụ thuộc vào nội dung kháng cáo, kháng nghị. Trong trường hợp kháng cáo, kháng nghị toàn bộ bản án thì nội dung tranh luận tại phiên toà phúc thâm sẽ bao gồm tất cả vấn đề như ở phiên tòa sơ thâm. Trong trường hợp chỉ có kháng cáo, kháng nghị một phần bản án sơ thâm (về hình phạt, về phần dân sự hoặc xử lý vật chứng) thì nội dung tranh luận tại phiên toà phúc thẩm chỉ tập trung chủ yếu vào các van dé liên quan đến phan bản án sơ thấm bi kháng cáo, kháng nghị. Tuy nhiên, trong trường hợp cần thiết, thì nội dung tranh luận này có thé bao gồm cả những van đề khác (ví dụ: có vi phạm nghiêm trọng thủ tục t6 tụng hoặc có căn cứ dé giảm nhẹ cho bị cáo, mặc dù trong kháng cáo, kháng nghị không đề cập đến van dé này).
Giám đốc thâm (tái thâm) không phải là một cấp xét xử mà chỉ là thủ tục tố tụng đặc biệt dé xét lại các bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật. Theo quy định của BLTTHS (Điều 282; Điều 297), nội dung tranh luận tại phiên toà này cũng bị giới hạn bởi nội dung kháng nghị và được thê hiện trong quan điểm của VKS về việc giải quyết vụ án mà KSV trình bày trước Hội đồng giám đốc thâm (tái thâm). Trong trường hợp TA triệu tập người bị kết án, người bào chữa và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến việc kháng nghị, thì những người này được trình bày ý kiến trước khi đại diện VKS phát biểu. Các ý kiến này cũng chủ yếu xoay quanh nội dung kháng 14 nghị.
Trong trường hợp họ vắng mặt thì Hội đồng giám đốc thẩm (tái thâm) vẫn tiễn hành xét xử. “Thue tiễn xét xử chỉ mới xảy ra một vài trường hợp Toà án xét xử giám đốc thẩm người bị kết án, người bào chữa đến phiên tòa còn những người khác thì chưa có” [23, tr.