Chương 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về năng lực ngôn ngữ và Khung mô tả năng lực sử dụng ngôn ngữ Chương 2. Các đặc tả năng lực sử dụng tiếng Anh của ngƣời học ở trình độ Ngƣỡng (Threshold level) và hƣớng chi tiết hóa Chương 3. Các nghiên cứu mô tả chi tiết thực trạng năng lực sử dụng tiếng Anh trình độ Ngƣỡng của sinh viên bậc đại học không chuyên ngữ tại Học viện ANND Chương 4.
Đề xuất Khung mô tả chi tiết năng lực sử dụng tiếng Anh trong dải trình độ Ngƣỡng cho sinh viên học tiếng Anh tại Học viện ANND. 6 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NĂNG LỰC NGÔN NGỮ VÀ KHUNG MÔ TẢ NĂNG LỰC SỬ DỤNG NGÔN NGỮ 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu về năn lực ngôn ngữ và khung mô tả năn lực sử dụng ngôn ngữ 1. Tình hình nghiên cứu trên thế giới 1.
Các nghiên cứu về năng lực ngôn ngữ Có thể nói rằng ngƣời đầu tiên tạo ra sự chú ý đến đến mô hình cấu trúc năng lực ngôn ngữ là Noam Chomsky với việc xuất bản 2 cuốn sách „Cấu trúc cú pháp‟ vào năm 1957 và „Các khía cạnh của lý thuyết cú pháp‟ năm 1965. Trƣớc Chomsky cũng có một số học giả nghiên cứu về lĩnh vực này, tiêu biểu là Fries, C. [71:3] cho rằng biết một ngôn ngữ trƣớc hết là trong một khối lƣợng từ vựng hạn chế, đã nắm vững đƣợc hệ thống âm thanh và sau đó là đã biến đƣợc các thủ pháp cấu trúc thành các vấn đề của thói quen tự động hoá. Mô hình năng lực ngôn ngữ theo quan điểm của Fries là tập hợp các tiểu mục hay danh mục các thành phần ngôn ngữ đơn l nhƣ các đơn vị âm thanh, đơn vị từ vựng, các mẫu câu.
Cùng quan điểm với Fries về việc ngôn ngữ là một tập hợp các thành tố tiêng rẽ, Lado,R. [100] khi nghiên cứu về lĩnh vực kiểm tra ngôn ngữ đã trình bày một mô hình năng lực ngôn ngữ gọi là mô hình „kĩ năng –yếu tố‟ với lý giải ngôn ngữ là một hệ thống phức tạp với các cấp độ liên quan đến việc lựa chọn và sắp xếp các đơn vị của kiến thức ngôn ngữ (đƣợc hiểu đơn giản chỉ gồm âm vị, cấu trúc, từ vựng) và sự lắp ráp các đơn vị đó với nhau theo các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết. Tuy nhiên, khi nhắc đến khái niệm „năng lực ngôn ngữ‟‟, các nhà nghiên cứu thƣờng truy nguồn đến khái niệm „ngữ năng‟ và „ngữ thi‟ của Chomsky,N. Trong „Các khía cạnh của lý thuyết cú pháp‟, Chomsky,N.
[56] phân biệt giữa ngữ năng - kiến thức ngôn ngữ của ngƣời nói và ngƣời nghe trong môi trƣờng đơn ngữ lý tƣởng và ngữ thi -lời nói của con ngƣời sản sinh ra vào bất cứ lúc nào trong những tình huống cụ thể và chịu ảnh hƣởng của vô số các yếu tố khác nhau. Ngữ năng là cái tiềm ẩn bên trong, không thể quan sát trực tiếp đƣợc mà chỉ có thể quan sát đƣợc một cách gián tiếp thông qua ngữ thi. Chỉ trích các nguyên lý cơ bản của ngôn ngữ học cấu trúc, Chomsky,N. chỉ ra rằng ngôn ngữ không phải là một cấu trúc tầng bậc với các mối quan hệ tuyến tính giữa âm vị, hình vị, cụm từ, mệnh đề và câu mà là một mạng lƣới các quá trình cải biến tạo sinh.
Tuy 7 nhiên vì quá quan tâm đến cú pháp trừu tƣợng và nhìn ngôn ngữ dƣới góc cạnh là một cơ chế tâm lý nhận thức, lý thuyết của Chomsky hầu nhƣ không để tâm đến mặt ngôn ngữ là công cụ giao tiếp của các tƣơng tác xã hội. Các quan điểm của Chomsky, N. [55, 56] về tính sáng tạo, tính duy nhất của các câu riêng l , cũng nhƣ sự phân tách ngữ năng với ngữ thi là tiền đề để khởi xƣớng sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học ứng dụng đến khía cạnh chức năng và giao tiếp khi nhận ra rằng năng lực ngôn ngữ không phải chỉ là nắm vững các cấu trúc ngữ pháp mà còn là sự thành thạo trong giao tiếp. Với cách tiếp cận chức năng đối với ngôn ngữ dựa trên mối quan tâm về „ngữ thi‟, hay việc sử dụng ngôn ngữ thực sự, Firth, J.
Ngôn ngữ là sự tƣơng tác, là hoạt động liên nhân và có mối quan hệ rõ ràng với ngữ cảnh. Theo quan điểm này, học ngôn ngữ là phải xem xét đến sự sử dụng (chức năng) của ngôn ngữ trong ngữ cảnh, cả ngữ cảnh ngôn ngữ (các phát ngôn trƣớc và sau) và ngữ cảnh xã hội (ai nói, vai xã hội của họ, tại sao họ cùng tham gia giao tiếp). Quan điểm này nêu ra 3 khái niệm quan trọng đối với cách tiếp cận chức năng trong giảng dạy ngôn ngữ là ngữ cảnh tình huống, chức năng, và nguồn lực tạo nghĩa [42]. [75] nhận thấy sự phát triển ngôn ngữ chính là khả năng làm chủ 3 chức năng ngôn ngữ cơ bản mà ông gọi là „siêu chức năng‟(metafunction), trong đó, „chức năng tạo ý‟(ideational) diễn đạt nội dung, giúp xác định cách thức nhìn sự vật của ngƣời nói; „chức năng liên nhân‟ (interpersonal) thiết lập và duy trì mối quan hệ, phân định các nhóm xã hội, nhận dạng và củng cố đặc điểm cá nhân; và „chức năng tạo văn bản‟ (textual) giúp tạo ra mối liên kết giữa bản thân ngôn ngữ với các đặc điểm tình huống mà nó đƣợc sử dụng, giúp ngƣời nói(hoặc ngƣời viết) xây dựng các đoạn văn của diễn ngôn phù hợp với tình huống; và cho rằng bất cứ một đơn vị ngôn ngữ nào đều là sự hiện thực hóa của 3 chức năng trên.
Không đồng tình với việc tách rời giữa biết (ngữ năng) và làm (ngữ thi) của Chomsky,N. định nghĩa ngôn ngữ là nguồn lực tạo nghĩa (meaning potential)- một tập hợp các lựa chọn nghĩa mà ngƣời nói- ngƣời nghe có trong các ngữ cảnh xã hội. Khái niệm nguồn lực tạo nghĩa mà Halliday đƣa ra bao hàm cả 2 khía cạnh biết và làm. Tiềm năng là cái có sẵn, cái đƣợc biết.
Từ tiềm năng, các lựa chọn đƣợc đƣa ra để thực hiện., ngôn ngữ là một hệ thống 8 tam tầng với 3 cấp độ lựa chọn: ngữ pháp, ngữ nghĩa và hành vi xã hội. Lựa chọn ngữ pháp là hệ thống của „cái mà người sử dụng có thể nói ra‟. Hệ thống ngữ pháp này hoạt động nhƣ là sự hiện thực hóa của các lựa chọn ngữ nghĩa „cái mà người sử dụng có thể muốn nói‟. Nhƣng hệ thống ngữ nghĩa này không phải là đích cuối vì khi vƣợt ra khỏi phạm vi ngôn ngữ, “có thể muốn nói” là hiện thực hóa của các lựa chọn hành vi xã hội “có thể làm‟ [76:39].
Có thể cho rằng cách dùng từ „có thể làm‟ (can do) của Halliday, M. là tiền đề quan trọng cho các định hƣớng mô tả năng lực ngôn ngữ theo cách tiếp cận hành động với những mô tả năng lực thực hiện „cando statement‟ trong hầu hết các khung mô tả năng lực ngôn ngữ phổ biến hiện nay. Có cùng cách tiếp cận về mặt chức năng giống nhƣ Halliday, Austin, J. [37, 143] coi bản chất cơ bản của ngôn ngữ là chức năng.
Trong lý thuyết về chức năng, khái niệm về „hành động ngôn trung‟ có ảnh hƣởng rất lớn đến lĩnh vực giảng dạy ngoại ngữ khi mà nhiều giáo trình ngoại ngữ lúc đó nhìn nhận mục tiêu khóa học dƣới góc độ chức năng lời nói. Cũng từ đó mà khái niệm „tiếp cận ý niệm-chức năng‟ trở nên rất phổ biến , đặc biệt khi Wilkins, D. [161] đề xuất nên nhìn nhận ngôn ngữ theo cách tiếp cận chức năng giao tiếp để xây dựng nên các chƣơng trình giảng dạy đƣợc bàn thảo trong cuốn „Các chƣơng trình ý niệm‟ xuất bản năm 1976. [162] Với cách tiếp cận ngôn ngữ học xã hội, Hymes,D.
tìm cách mở rộng khái niệm ngữ năng của Chomsky,N., không chỉ giới hạn trong cấu trúc các kiến thức ẩn chứa trong đầu của ngƣời nói-ngƣời nghe lý tƣởng mà còn có cả khả năng giao tiếp trong các tình huống cụ thể. Quan tâm đến ý nghĩa giao tiếp, Hymes,D. [87] cho rằng quan điểm về ngƣời nói-ngƣời nghe lý tƣởng trong một cộng đồng hoàn toàn thuần nhất là không đầy đủ, cần phải tập trung vào ngƣời nói-ngƣời nghe „thực sự‟ và họ không chỉ cần có sự chính xác về ngữ pháp mà cả sự phù hợp về giao tiếp. Khái niệm „năng lực giao tiếp‟ đƣợc Hymes,D.
đƣa ra khi thể hiện sự không đồng tình với quan điểm của Chomsky,N. về thuật ngữ “ngữ năng” và “ngữ thi”. Ông phản đối sự phân tách ngữ năng đối lập với ngữ thi và cho rằng cần xem xét chúng nhƣ 2 mặt của đồng tiền: ngữ thi là phần quan sát đƣợc và ngữ năng, là khả năng để sản sinh ra ngữ thi. Hymes,D cho rằng mục tiêu của một lý thuyết về năng lực ngôn ngữ là chỉ ra cách thức mà tính khả năng về mặt hình thức, tính khả thi, và tính phù hợp đƣợc liên kết với nhau để sản sinh và diễn giải một hành vi văn hóa thực sự có xuất hiện [88: 286 ].
Vì vậy, có 4 câu hỏi khi phân tích việc 9 sử dụng ngôn ngữ là: 1. Liệu (và tới chừng mực nào) một điều gì đó có thể về mặt hình thức hay không 2. Liệu (và tới chừng mực nào) một điều gì đó có tính khả thi hay không 3. Liệu (và tới chừng mực nào) một điều gì đó có phù hợp hay không 4.
Liệu (và tới chừng mực nào) một điều gì đó đƣợc thực hiện. Câu hỏi về sự có thể về mặt hình thức là chỉ đến các quy tắc ngữ pháp, văn hóa của một phát ngôn hay một hành động giao tiếp. Cả hành vi giao tiếp bằng lời và các hành vi giao tiếp khác có thể đƣợc đánh giá dựa trên việc tuân thủ quy tắc của hệ thống hình thức. Câu hỏi về tính khả thi quan tâm đến các yếu tố ngôn ngữ -tâm lý nhƣ giới hạn về trí nhớ, về giác quan, cảm xúc.
Câu hỏi về sự phù hợp gắn kết hành động giao tiếp với môi trƣờng xã hội của nó. Câu hỏi về sự thực hiện trong thực tế chỉ ra rằng việc nghiên cứu năng lực giao tiếp không thể chỉ giới hạn trong các trƣờng hợp sử dụng thực tế (occurrences) nhƣng cũng không thể tảng lờ chúng đi [88: 286 ] bởi cấu trúc ngôn ngữ dƣờng nhƣ thay đổi do sự xuất hiện của chúng trong các tình huống thực. Trong số các nhà ngôn ngữ chịu ảnh hƣởng bởi các lý thuyết của Hyme, Canale,M.