phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, tài liệu tham khảo và phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động dạy học Chƣơng 2: Thực trạng dạy học môn tiếng Anh tại trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý dạy học môn tiếng Anh tại 3 trường trung học phổ thông huyện Thuỷ Nguyên thành phố Hải Phòng. 5 z CHƢƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC 1. Các khái niệm cơ bản của vấn đề nghiên cứu 1.
Khái niệm quản lý Quản lý là một trong những loại hình lao động quan trọng nhất và lâu đời của con người. Nó phát triển không ngừng theo sự phát triển của xã hội. Quản lý là một cần thiết cho tất cả các lĩnh vực của đời sống con người và là một nhân tố của sự phát triển xã hội. Lý luận về quản lý vì vậy được hình thành và phát triển qua các thời kỳ và trong các lý luận về chính trị, kinh tế xã hội.
Tuy nhiên, chỉ mới gần đây người ta mới chú ý đến “chất khoa học” của quá trình quản lý và dần hình thành các “lý thuyết quản lý”.Taylor phát biểu các nguyên lý về quản lý thì quản lý nhanh chóng phát triển thành một ngành khoa học. Bất cứ một tổ chức, một lĩnh vực nào, từ sự hoạt động của nền kinh tế quốc dân, hoạt động của một doanh nghiệp, một đơn vị hành chính sự nghiệp, đến một tập thể thu nhỏ như tổ sản xuất, tổ chuyên môn, bao giờ cũng có hai phân hệ: người quản lý và đối tượng bị quản lý. Có nhiều quan điểm khác nhau về quản lý tùy thuộc vào các cách tiếp cận, góc độ nghiên cứu và hoàn cảnh xã hội, kinh tế, chính trị. Có thể điểm qua một số lý thuyết đó như sau: K.Markx: “Tất cả mọi lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên quy mô tương đối lớn, thì ít nhiều cũng cần đến một sự chỉ đạo để điều hòa những hoạt động cá nhân và thực hiệ những chức năng chung phát sinh từ sự vận động của toàn bộ cơ thể sản xuất khác với sự vận động của những khí quan độc lập của nó.
Một người độc tấu vĩ cầm tự điều khiển lấy mình, còn một dàn nhạc thì cần phải có một nhạc trưởng”[7, tr.Marx đã lột tả được bản chất quản lý là một hoạt động lao động để điều khiển lao động, một hoạt động tất yếu vô cùng quan trọng trong quá trình 6 z phát triển của xã hội loài người. Quản lý đã trở thành một hoạt động phổ biến, mọi nơi, mọi lúc, mọi lĩnh vực, mọi cấp độ và có liên quan đến mọi người. Đó là một loại hoạt động xã hội bắt nguồn từ tính chất cộng đồng dựa trên sự phân công và hợp tác để làm một công việc nhằm đạt một mục tiêu chung. Khái niệm quản lý được giải trình từ nhiều góc độ.
Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang: “Quản lý là tác động có mục đích, có kế hoạch của chủ thể quản lý đến tập thể những người lao động (nói chung là khách thể quản lý) nhằm thực hiện được những mục tiêu dự kiến”[10,tr. “Hoạt động quản lý là tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể quản lý (người quản lý) đến khách thể quản lý ( người bị quản lý) trong một tổ chức nhằm cho tổ chức vận hành và đạt được mục đích của tổ chức” [9 , Tr. Có nhiều định nghĩa khác nhau về quản lý, song tựu chung các định nghĩa trên đều thống nhất: Quản lý luôn luôn tồn tại với tu cách là một hệ thống gồm các yếu tố: chủ thể quản lý (người quản lý, tổ chức quản lý); khách thể quản lý (người bị quản lý, đối tượng quản lý) gồm con người, trang thiết bị kỹ thuật, vật nuôi, cây trồng và mục đích hay mục tiêu chung của công tác quản lý do chủ thể quản lý áp đặt hay go yêu cầu khách quan của xã hội hoặc do có sự cam kết, thỏa thuận giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý, từ đó nảy sinh các mối quan hệ tương tác với nhau giữa chủ thể quản lý và khách thể quản lý. Bản chất của hoạt động quản lý là cách thức tác động (tổ chức, điều khiển, chỉ huy) hợp quy luật của chủ thể quản lý đến khách thể quản lý trong một tổ chức nhằm làm cho tổ chức vận hành đạt hiệu quả mong muốn và đạt được mục tiêu đề ra.
Quản lý giáo dục và quản lý nhà trường 1. Quản lý giáo dục Khoa học quản lý là một khoa học liên ngành sử dụng tri thức của nhiều lĩnh vực: Tâm lý học, Xã hội học, Triết học v. 7 z Khoa học quản lý giáo dục là một chuyên ngành của khoa học quản lý nói chung đồng thời cũng là bộ phận của khoa học giáo dục, nhưng là một khoa học tương đối độc lập. Quản lý giáo dục là một loại hình của quản lý xã hội bởi lẽ Giáo dục là một hiện tượng xã hội, một chức năng của xã hội loài người được thực hiện một cách tự giác, cũng giống như mọi hoạt động khác của xã hội loài người, giáo dục cũng cần phải quản lý.
dưới góc độ coi giáo dục là một hoạt động chuyên biệt thì quản lý giáo dục là quản lý các hoạt động của một cơ sở giáo dục như trường học,các đơn vị phục vụ đào tạo Dưới góc độ xã hội, quản lý giáo dục là quản lý mọi hoạt động giáo dục trong xã hội. Có nhiều định nghĩa về quản lý giáo dục như sau: Theo tác giả Nguyễn Ngọc Quang, khái niệm quản lý giáo dục là khái niệm đa cấp (bao hàm cả quản lý hệ giáo dục quốc gia, quản lý các phân hệ của nó, đặc biệt là quản lý trường học): “Quản lý giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý nhằm làm cho hệ vận hành theo đường lối và nguyên lý giáo dục của Đảng, thực hiện được các tính chất của nhà trường xã hội chủ nghĩa Việt Nam, mà tiêu điểm hội tụ là quá trình DH – giáo dục thế hệ trẻ, đưa giáo dục tới mục tiêu dự kiến, tiến lên trạng thái mới về chất”[10, tr. “Quản lý giáo dục là tổ chức các hoạt động DH. Có tổ chức được các hoạt động DH, thực hiện được các tính chất của nhà trường phổ thông Việt Nam xã hội chủ nghĩa, mới quản lý được giáo dục, tức là cụ thể hoa đường lối giáo dục của Đảng và biến đường lối đó thành hiện thực, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, của đất nước”[9, tr.
Quản lý giáo dục có tính xã hội cao. Bởi vậy, cần tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội: Kinh tế, Chính trị, Văn hóa, An ninh quốc phòng phục vụ công tác giáo dục. Nhà trường là đối tượng cuối cùng và cơ bản nhất của quản lý giáo dục, trong đó đội ngũ GV và HS là đối tượng quản lý quan trọng nhất. 8 z Qua các định nghĩa trên chúng ta có thể rút ra những kết luận: QLGD là hệ thống những tác động có mục đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý đến tập thể GV và HS, đến những lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường làm cho quá trình này hoạt động để đạt những mục tiêu dự định, nhằm điều hành phối hợp các lực lượng xã hội thúc đẩy mạnh mẽ công tác giáo dục thế hệ trẻ, theo yêu cầu phát triển xã hội.
Trong QLGD, quan hệ cơ bản là quan hệ giữa người quản lý với người dạy và người học, ngoài ra còn các mối quan hệ khác như quan hệ giữa các cấp bậc khác, giữa GV với HS , giữa nhân viên phục vụ với công việc liên quan đến hoạt động giảng dạy và học tập, giữa GV – HS và CHSC phục vụ cho giáo dục. Quản lý nhà trường Vấn đề cơ bản của quản lý giáo dục là quản lý nhà trường vì nhà trường là cơ sở giáo dục, nơi tổ chức thực hiện mục tiêu giáo dục. Khi nghiên cứu về nội dung khái niệm quản lý giáo dục thì khái niệm trường học được hiểu là tổ chức cơ sở mang tính Nhà nước – xã hội, trực tiếp làm công tác giáo dục - đào tạo thế hệ trẻ cho tương lai của đất nước. “Quản lý nhà trường là tập hợp những tác động tối ưu của chủ thể quản lý đến tập thể GV, HS và cán bộ khác, nhằm tận dụng các nguồn dự trữ do nhà nước đầu tư, lực lượng xã hội đóng góp và do lao động xây dựng vốn tự cơ.
Hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường mà điểm hội tụ là quá trình đào tạo thế hệ trẻ. Thực hiện có chất lượng mục tiêu và kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường tiến lên trạng thái mới” [10, tr. “Quản lý trường học là lao động của các cơ quan quản lý nhằm tập hợp và tổ chức lao động của GV, HS và các lực lượng giáo dục khác, cũng như huy động tối đa các nguồn lực giáo dục để nâng cao chất lượng GD&ĐTtrong nhà trường” [13, tr. Quản lý nhà trường là một hoạt động được thực hiện trên cơ sở những quy luật chung của quản lý, đồng thời cũng có những nét đặc thù riêng của nó.
Quản lý nhà trường khác với các loại quản lý xã hội khác, được quy định 9 z bởi bản chất hoạt động sư phạm của người GV, bản chất của quá trình DH, giáo dục trong đó mọi thành viên của nhà trường vừa là đối tượng quản lý vừa là chủ thể hoạt động của bản thân mình. Sản phẩm tạo ra của nhà trường là nhân cách của người học được hình thành trong quá trình học tập, tu dưỡng và rèn luyện theo yêu cầu của xã hội và được xã hội thừa nhận. Mục đích của quản lý nhà trường: là đưa nhà trường từ trạng thái đang phát triền lên một trạng thái phát triển mới bằng phương thức xây dựng và phát triển mạnh mẽ các nguồn lực giáo dục và hướng các nguồn lực đó vào việc phục vụ cho việc nâng cao chất lượng giáo dục. Nội dung công tác quản lý giáo dục trong nhà trường bao gồm: + Quản lý toàn bộ cơ sở vât chất và thiết bị nhà trường nhằm phục vụ tốt nhất cho việc giảng dạy, học tập và giáo dục HS.