phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận văn dự kiến được trình bày theo 3 chương: Chƣơng 1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở trường THPT theo tiếp cận năng lực. Chƣơng 2: Thực trạng quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực. Chƣơng 3: Biện pháp quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh ở các trường THPT huyện Ba Vì, thành phố Hà Nội theo tiếp cận năng lực. 5 Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC MÔN TIẾNG ANH Ở TRƢỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG THEO TIẾP CẬN NĂNG LỰC 1.
Tổng quan nghiên cứu vấn đề 1. Những nghiên cứu về hoạt động dạy học và hoạt động dạy học môn Tiếng Anh Hoạt động dạy học luôn là mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới với mục tiêu là tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao góp phần xây dựng và phát triển đất nước, làm cho dân giàu, nước mạnh. Trong các thời kì khác nhau, hoạt động dạy học được nhiều nhà nghiên cứu xây dựng nội dung, hình thức, phương pháp tổ chức dạy học khác nhau, nhưng mục tiêu đều hướng vào người học, nhằm nâng cao chất lượng hoạt động dạy và hoạt động học. Socrate (469 -399 TCN), một nhà triết học Hy Lạp, ông theo trường phái duy tâm chủ quan, nổi tiếng về sự hoài nghi và cách dạy học hỏi - đáp để tìm ra chân lí.
Phương pháp dạy học hỏi - đáp được gọi là “thuật đỡ đẻ” hay là “phương pháp Socrate”. Platon (427 - 348 TCN) cũng là một nhà triết học Hy Lạp cho rằng: Giáo dục giúp cho con người có lí trí, giáo dục có tính chọn lọc cho phù hợp với khả năng của từng người, ai giỏi thì được học lên mãi. Người giỏi nhất sẽ được chọn để đứng đầu nhà nước. Ông đánh giá rất cao vai trò của giáo dục, xem giáo dục là nhiệm vụ của tất cả mọi người, của toàn xã hội, giáo dục con người là cả một quá trình lâu dài.
Khổng Tử (551 - 479 TCN), một triết gia, chính trị gia người Trung Quốc, ông quan niệm mục đích giáo dục là nhân nghĩa trung chính. Quân tử phải học đạo để thương người, trị người; tiểu nhân học đạo để dễ sai khiến, biết phục tùng; giáo dục làm cho dân giàu, nước mạnh; giáo dục phục vụ chính trị “đức trị” và “tu thân”. Nội dung giáo dục là Đạo - đức với trung tâm là Nhân. Makarenko (1888 -1939) là một nhà sư phạm, nhà văn Liên Xô, cho rằng: Mục tiêu giáo dục: Giáo dục lí tưởng sư phạm; giáo dục nhân cách, nghề nghiệp, tính cách, phẩm chất cá nhân liên quan đến cuộc sống cá nhân và xã hội Cộng sản.
Nội dung giáo dục: Giáo dục trí tuệ sáng tạo lợi ích; giáo dục đạo đức, nền nếp, kỉ luật tự giác, chủ nghĩa tập thể; giáo dục lao động: tập thể, lợi ích 6 chung, vận dụng tri thức, đạo đức lao động; giáo dục thể chất, giáo dục thẩm mĩ. John Dewey (1859 -1952) là nhà triết học, tâm lý học và nhà cải cách giáo dục người Mỹ. Ông là người đi tiên phong trong phong trào vận động cải cách giáo dục và là đại biểu của lí luận giáo dục hiện đại. Ông kêu gọi sự gắn kết giữa lí thuyết và thực hành, dân chủ là tự do, nhà trường là xã hội, giáo dục là cuộc sống, lấy hoạt động của người học làm chính yếu.
Ông xây dựng một nền giáo dục mang tính hiệu quả và lợi ích, tính chủ động của người học và liên hệ với đời sống. Ông chủ trương đưa chủ đề học vào kinh nghiệm thực tế, nhưng để dạy được như thế đòi hỏi phải có những giáo viên giỏi, họ phải là những người có trình độ chuyên môn cao, hiểu biết thấu đáo chủ đề học, được đào tạo đầy đủ về tâm lí học lứa tuổi và sư phạm, khéo léo trong kĩ thuật đưa ra những tác nhân kích thích cần thiết để chủ đề học trở thành một phần trong sự trải nghiệm ngày càng mở rộng của học sinh. Như vậy, lí luận về HĐDH là vấn đề được rất nhiều nhà nghiên cứu sư phạm trên thế giới quan tâm. Trong đó, việc kết hợp giáo dục trí dục với đạo đức là yêu cầu tất yếu của giáo dục toàn diện.
Ở Việt Nam cũng vậy, có nhiều nhà nghiên cứu về hoạt động dạy học ở nhiều lĩnh vực khác nhau, cụ thể: Nghiên cứu về vị trí vai trò của việc tổ chức quá trình dạy học, ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng dạy học, bản chất và mối quan hệ giữa hoạt động dạy và hoạt động học; đổi mới nội dung và đổi mới cách thức tổ chức hoạt động dạy học. Các công trình nghiên cứu được viết dưới dạng sách tham khảo, giáo trình, bài giảng, tiêu biểu có thể kể đến: nhà sư phạm nổi tiếng Trần Kiểm (Trần Kiểm, 1997). Nghiên cứu sâu về đổi mới nội dung dạy học, đổi mới phương pháp dạy học theo hướng nâng cao tính hiện đại và gắn khoa học với đời sống thực tế, vấn đề lấy học sinh làm trung tâm có Phạm Viết Vượng (Phạm Viết Vượng, 2000); Lê Thảo Nguyên (2017) với “Dạy học theo tiếp cận năng lực trong bồi dưỡng cán bộ quản lý thông tin và truyền thông” Luận án tiến sĩ, ĐHSP- ĐHTN; Huỳnh Văn Sơn, Nguyễn Kim Hồng, Nguyễn Thị Diễm My (2017) với “Phương pháp dạy học phát triển năng lực học sinh phổ thông”, Nxb Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh; Cao Danh Chính (2012) với “Dạy học theo tiếp cận năng lực thực hiện ở các trường đại học sư phạm kĩ thuật”, Luận án tiến sĩ Giáo dục 7 học, Đại học sư phạm Hà Nội; Bên cạnh những công trình nghiên cứu về hoạt động dạy học nêu trên, còn có các nghiên cứu về hoạt động dạy học môn Tiếng Anh. Tiêu biểu như: Nguyễn Thị Thúy Hồng (2009), Một số suy nghĩ về đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Anh, Báo cáo Hội thảo Đổi mới phương pháp giáo dục và đánh giá năm học 2008-2009, ĐH Nha Trang.
Tác giả trình bày hai vấn đề trung tâm tại sao phải đổi mới phương pháp dạy học Tiếng Anh, nên thay đổi như thế nào và đưa ra những nhận xét về tình hình học tập Tiếng Anh của học sinh không đồng đều và những yếu tố gây trở ngại cho việc học ngôn ngữ như thụ động, không thích cộng tác. Tác giả giới thiệu một số xu thế mà các nước phát triển đang sử dụng hiệu quả như thực hành giao tiếp (CLT: Communicative Language Teaching), lấy học sinh làm trung tâm (Leaner-centered learning) và đề nghị giáo viên Việt Nam nên tìm hiểu cũng như áp dụng chúng. Tác giả còn đề xuất bổ trợ nhằm giúp học sinh khắc phục những đặc điểm gây cản trở quá trình học ngoại ngữ như cho học sinh thực hành thảo luận nhóm, theo cặp, xen kẽ các trò chơi trong các giờ dạy, thiết kế các bài tập theo hướng tạo tính chủ động, sáng tạo cho học sinh [14]. Tác giả Nguyễn Thị Mỹ Phượng (2006), “Một số chiến lược nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Tiếng Anh cho học viên lớn tuổi ở khoa Tiếng Anh”, Tạp chí KH & CN, ĐHĐN; Số: 3(15)-4(16).
Tác giả đề cập đến những khó khăn của học sinh trong việc học Tiếng Anh và đưa ra những chiến lược liên quan đến chất lượng dạy học, phương pháp và giáo trình giảng dạy nhằm đáp ứng nhu cầu cấp bách của xã hội. Tác giả cũng đề xuất giáo viên vận dụng các chiến lược lấy học sinh làm trung tâm, tôn trọng học sinh và tổ chức hoạt động tổ chức trò chơi nhằm tạo hứng thú và gây sự chú ý của học sinh [25]. Nguyễn Thị Hương (2020), “Một số phương pháp dạy học Tiếng Anh cho sinh viên qua hoạt động trải nghiệm”, Tạp chí Giáo dục, Số đặc biệt kì 1 tháng 5/2020, tr 190-194. Tác giả cho rằng: Phương pháp dạy học qua trải nghiệm giúp người học có thể rèn luyện và học tập một cách tốt nhất, hiệu quả nhất, cả về kiến thức chuyên môn lẫn kĩ năng học tập, tìm tòi, phân tích và áp dụng thực tiễn, trang bị cho người học kĩ năng xã hội một cách toàn diện.
Học Tiếng Anh bằng trải nghiệm là cách học giúp người học được tiếp cận Tiếng Anh một cách gần gũi và chủ động 8 nhất. Từ vựng, cấu trúc câu hay kĩ năng phản xạ giao tiếp được học và sử dụng ngay lập tức thay vì chỉ ghi chép và nhớ như cách học truyền thống. Cách học Tiếng Anh bằng trải nghiệm giúp người học vận dụng tổng hợp tất cả giác quan và hành động trong các tình huống thực tế, giúp học sinh nhớ lâu hơn những điều đã học. Tương tự như vậy, trải nghiệm Tiếng Anh mang đến cho người học cảm giác thú vị, nhiều cảm hứng hơn và người dạy cũng cảm nhận được nhiều năng lượng hơn [17].
Như vậy, hoạt động dạy học nói chung và hoạt động dạy học môn Tiếng Anh nói riêng là hệ thống những hành động phối hợp, tương tác giữa giáo viên và học sinh, trong đó, dưới tác động chủ đạo của giáo viên, học sinh tự giác, tích cực, chủ động lĩnh hội hệ thống tri thức khoa học, kỹ năng, kỹ xảo, phát triển năng lực nhận thức, năng lực hành động, hình thành thế giới quan khoa học và những phẩm chất của nhân cách. Những nghiên cứu về quản lý hoạt động dạy học môn Tiếng Anh theo tiếp cận năng lực Trong lịch sử giáo dục, có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động dạy học theo tiếp cận năng lực. Từ xa xưa, có các triết gia như Socrate, Aristote, Platon, Lão Tử, Khổng Tử, Mạnh Tử. Đến thời kì Trung cổ Châu Âu, nhiều nhà khoa học cũng quan tâm vấn đề phát triển năng lực trí tuệ (Decarter, Diterverg, Pestalotsy, Comensky, J.
Rutso) và thực sự chỉ quan tâm đến phát triển trí tuệ. Ngày nay, dạy học theo tiếp cận năng lực là tiêu biểu cho tư tưởng giáo dục hiện đại, một vấn đề khoa học rất rộng, được nhiều học giả trên thế giới nghiên cứu: Giáo dục dựa trên năng lực (Competency-based Education) hay Đào tạo dựa vào năng lực (Competency-based Training) hoặc Học tập dựa vào năng lực (Competency-based Learning). Bản chất của những cách tiếp cận này là thể hiện một triết lý giáo dục tập trung trước hết vào khả năng của người học. Hướng vào người học là tư tưởng hiện đại mà nền tảng triết học đã được Xavier Roegirs, L.
W, John Dewey và J. Piaget xác lập có 2 khía cạnh: tận dụng năng lực có sẵn và phát triển năng lực mới của người học trong quá trình dạy học [22].