Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp cử nhân sư phạm lịch sử với đề tài "Bước đầu tìm hiểu về con người và sự nghiệp Phan Đình Phùng" do sinh viên Võ Thị Xuân thực hiện dưới sự hướng dẫn của giảng viên Trịnh Thành Công (Khoa Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, khóa luận hoàn thành tháng 5 năm 2011). Nghiên cứu đặt trọng tâm vào một nhân vật lịch sử tiêu biểu của phong trào Cần Vương cuối thế kỷ XIX.

Lý do chọn đề tài xuất phát từ bối cảnh lịch sử cụ thể: Vào nửa sau thế kỷ XIX, sự bành trướng thuộc địa của chủ nghĩa tư bản phương Tây đã dẫn tới quá trình xâm lược Việt Nam của thực dân Pháp. Trước sự suy yếu, phân hóa và đầu hàng từng bước của triều đình nhà Nguyễn, phong trào đấu tranh vũ trang của nhân dân bùng nổ mạnh mẽ, mà đỉnh cao là phong trào Cần Vương do tầng lớp sĩ phu, văn thân yêu nước lãnh đạo. Phan Đình Phùng nổi lên như một thủ lĩnh kiên cường, lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê kéo dài suốt mười năm (1885–1895). Bên cạnh tài năng quân sự và khí tiết cương trực chốn quan trường, ông còn để lại những trước tác văn hóa có giá trị, nổi bật là bộ sách Việt sử địa dư cùng nhiều thi phẩm yêu nước. Với tư cách là một sinh viên sư phạm lịch sử và là người con quê hương Hà Tĩnh, tác giả lựa chọn đề tài nhằm tái hiện toàn diện cuộc đời, nhân cách và sự nghiệp của Phan Đình Phùng, qua đó phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu khoa học và giảng dạy lịch sử địa phương sau này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể theo các nội dung sau:

  1. Khái quát hoàn cảnh quốc tế và bối cảnh chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX dưới triều Nguyễn trước họa xâm lăng.
  2. Phục dựng chi tiết về quê hương, gia thế, tiểu sử, khoa cử, hành trạng chốn quan trường, phân tích tính cách và khảo cứu các nguồn sử liệu liên quan đến cái chết của Phan Đình Phùng.
  3. Đánh giá vai trò, vị trí của Phan Đình Phùng đối với phong trào Cần Vương nói chung và cuộc khởi nghĩa Hương Khê nói riêng.
  4. Làm rõ những đóng góp về mặt văn hóa, học thuật của Phan Đình Phùng thông qua bộ sách Việt sử địa dư và các tác phẩm thơ văn yêu nước.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là con người, nhân cách, tư tưởng cùng sự nghiệp quân sự và văn hóa của Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng (1847?–1895). Phạm vi nghiên cứu về không gian tập trung vào địa bàn Trung Kỳ, trực tiếp là bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình (trọng tâm là căn cứ Hương Khê, Vụ Quang, Hà Tĩnh); phạm vi thời gian bao quát nửa sau thế kỷ XIX, gắn với cuộc đời Phan Đình Phùng từ khi sinh ra đến khi qua đời và giai đoạn kết thúc của khởi nghĩa Hương Khê (1885–1896).

Cơ sở sử liệu và phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thuộc loại hình khảo cứu lịch sử chuyên đề nhân vật, do đó tác giả không sử dụng các mô hình định lượng hay khảo sát thực nghiệm mà dựa hoàn toàn trên hệ thống nguồn sử liệu thành văn và phương pháp luận sử học chuyên ngành.

Hệ thống nguồn sử liệu được tác giả khảo cứu và tổng hợp bao gồm:

  • Sử liệu chính thống triều Nguyễn: Bộ biên niên sử Đại Nam thực lục (Chính biên, đặc biệt là tập VIII và IX, bản dịch của Nhà xuất bản Giáo dục, 2006); Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục; các ghi chép trong Đại Nam nhất thống chí.
  • Tư liệu địa phương và dòng họ: Bản chép tay chữ Quốc ngữ Hà Tĩnh Ất Dậu ký của dòng họ Lê ở xã Trung Lễ, huyện Đức Thọ, do Giáo sư Nguyễn Phan Quang sưu tầm và giới thiệu trong tập 2 bộ sách Việt Nam cận đại những sử liệu mới (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh, 2008). Đây là nguồn tư liệu phản ánh chân thực, giàu chi tiết địa phương về khởi nghĩa Hương Khê.
  • Các công trình nghiên cứu sử học tiêu biểu: Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim (biên soạn 1919, bản in năm 2000); Lịch sử 80 năm chống Pháp (quyển I) của Trần Huy Liệu (Nhà xuất bản Khoa học Xã hội, 2003); Đại cương lịch sử Việt Nam (tập II) do Đinh Xuân Lâm chủ biên (Nhà xuất bản Giáo dục, 2007); chuyên khảo Phan Đình Phùng nhà lãnh đạo mười năm kháng chiến (1886-1895) ở Nghệ Tĩnh của Đào Trinh Nhất (Nhà xuất bản Tân Việt, 1959, gồm 283 trang, 21 mục); các bài khảo cứu của Phan Bội Châu (Việt Nam vong quốc sử), Cố Nhĩ Tân, Lê Minh Quốc và kỷ yếu hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày mất Phan Đình Phùng.
  • Văn bản hành chính và văn khố quân sự: Tờ yết thị ngày 9 tháng 12 năm Thành Thái thứ 7 của Khâm sai Tiết chế Quân vụ Đại thần Nguyễn Thân; Thông tư số 83 (Colonne de police N° 83) ngày 29 tháng 01 năm 1896 của viên Phó công sứ ủy viên Chính phủ Pháp đóng tại đồn Linh Cảm; các báo cáo và công điện quân sự của chính quyền thực dân.
  • Tư liệu văn học: Các tuyển tập văn thơ yêu nước như Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX (1885-1900) (Nhà xuất bản Văn học, 1976); Tổng tập văn học Việt Nam (tập 19) do Nguyễn Văn Huyên chủ biên (1996).

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả vận dụng kết hợp phương pháp lịch sử và phương pháp logic. Quá trình triển khai bao gồm các bước nghiệp vụ: sưu tầm tài liệu, lập phiếu thư mục tư liệu, tiến hành phân loại, phân tích, tổng hợp, giám định sử liệu và so sánh, đối chiếu đa nguồn giữa chính sử triều đình, tài liệu dã sử địa phương và báo cáo của đối phương để rút ra nhận định khách quan.

Nội dung chính theo từng chương

Chương I: Phan Đình Phùng, con người và quê hương

Chương I phân tích toàn diện bối cảnh lịch sử, nguồn gốc xuất thân, hành trạng và những nét đặc sắc trong tính cách của Phan Đình Phùng, được chia thành hai phần lớn:

Khái quát hoàn cảnh quốc tế và Việt Nam nửa sau thế kỷ XIX: Tác giả chỉ ra bước chuyển của chủ nghĩa tư bản từ tự do cạnh tranh sang độc quyền, kéo theo nhu cầu cấp bách về thuộc địa, biến Đông Nam Á thành mục tiêu xâm lược. Tại Việt Nam, triều Nguyễn thành lập năm 1802 dưới sự trị vì của vua Gia Long. Văn bản tổng hợp ba luồng quan điểm đánh giá triều Nguyễn: ghi nhận công lao thống nhất lãnh thổ; phê phán đường lối cai trị bảo thủ làm suy kiệt tiềm lực dân tộc; và quan điểm phân tích đan xen giữa mặt ổn định với sự trì trệ. Tác giả dẫn chứng các số liệu kinh tế - xã hội thời Nguyễn: địa bạ năm 1803, chính sách quân điền năm 1804, doanh điền năm 1828 của Nguyễn Công Trứ; nhà nước quản lý 139 mỏ khoáng sản; chính sách "bế quan tỏa cảng"; bộ máy quan chế tập trung qua cải cách hành chính 1831–1832 của Minh Mạng chia cả nước thành 30 tỉnh và 1 phủ Thừa Thiên; ban hành Hoàng triều luật lệ năm 1815 gồm 398 điều. Sự khủng hoảng sâu sắc của chế độ phong kiến thể hiện qua sự bần cùng hóa của nông dân, dẫn đến 40 cuộc khởi nghĩa riêng trong giai đoạn 1848–1862 (thời Tự Đức) và cuộc chiến tranh kéo dài 20 năm (1827–1847) với Xiêm, Miên, Lào làm suy kiệt quốc lực.

Phan Đình Phùng - cuộc đời, quê hương và tính cách:

  • Quê hương: Phan Đình Phùng sinh tại làng Đông Thái, huyện La Sơn (nay là xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh). Đây là vùng đất nổi tiếng khoa bảng, thời phong kiến có tới 24 vị đỗ đại khoa Tiến sĩ trên tổng số 44 Tiến sĩ của huyện Đức Thọ.
  • Gia thế và khoa cử: Dòng họ Phan có truyền thống 12 đời đỗ đạt làm quan. Thân phụ là Phó bảng Phan Đình Tuyển (đỗ năm Giáp Thìn 1844). Phan Đình Phùng là con thứ tư trong gia đình năm anh em trai. Về năm sinh, tác giả khảo cứu hai giả thuyết: năm 1844 (Giáp Thìn) theo ghi chép của Cao Xuân Dục trong Quốc triều hương khoa lục, Tiểu truyện danh nhân của Cố Nhĩ Tân; và năm 1847 (Đinh Mùi, tức ngày 6 tháng 6 năm 1847) theo Đào Trinh Nhất, Đinh Xuân Lâm và Trần Huy Liệu. Sau thời gian kiên trì rèn luyện, ông đỗ Cử nhân khoa Bính Tý (1876) và đỗ Đình nguyên Tiến sĩ (Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ xuất thân) tại khoa thi Hội năm Đinh Sửu (1877).
  • Hành trạng quan trường: Năm 1878 làm Tri huyện Yên Khánh (Ninh Bình), nổi tiếng với vụ xử phạt 10 roi cố đạo Trần Lục (cụ Sáu) vì cậy thế ức hiếp dân. Cuối năm 1878 được điều về kinh giữ chức Ngự sử Đô sát viện; tháng 2 năm 1882 làm Hình khoa Chưởng ấn; tháng 6 năm 1882 làm Khâm mạng thanh tra Bắc Kỳ, dâng sớ hạch tội Thiếu bảo Nguyễn Chánh về tội "ứng binh bất viện" khi thành Nam Định thất thủ. Tháng 7 năm 1883, giữa triều đình, ông dũng cảm lên tiếng phản đối Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường làm trái di chiếu phế vua Dục Đức lập vua Hiệp Hòa, dẫn đến việc bị bắt giam ở trại Cấm vệ rồi bị bãi chức đuổi về quê.
  • Tính cách và khí tiết: Khóa luận khắc họa tính cách nổi bật là "thẳng và gan". Ông có tư tưởng tiến bộ, bao dung về tôn giáo khi khẳng định mọi tín ngưỡng đều bình đẳng, việc phạt linh mục Trần Lục là trừng trị hành vi cậy quyền hại dân chứ không xuất phát từ kỳ thị Thiên Chúa giáo. Khi dấy binh Cần Vương, ông đã ba lần khước từ những âm mưu dụ hàng: từ chối thư dụ hàng của Lê Kính Hạp dù kẻ thù bắt giữ anh ruột Phan Đình Thông và đe dọa quật mồ mả tổ tiên; họa thơ cự tuyệt lời khuyên bãi binh của Tuần phủ Võ Khoa qua bài thơ thất ngôn tứ tuyệt khẳng định tấm lòng son sắt ("Trăm năm xã tắc lòng nung nấu / Một tấm cô trung khiếp vía thù..."); và viết bức thư dài đanh thép bác bỏ toàn bộ lời dụ dỗ của Bắc Kỳ Kinh lược sứ Hoàng Cao Khải vào tháng 5 năm 1894.
  • Về cái chết của Phan Đình Phùng: Tác giả đối chiếu các luồng tài liệu xoay quanh ngày mất (28/12/1895). Một số nguồn khẳng định ông hy sinh do bị thương nặng trong một trận kịch chiến (công điện của Khâm sứ Trung Kỳ, tài liệu Thơ văn yêu nước nửa sau thế kỷ XIX). Các nguồn sử liệu khác (Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu, Việt Nam sử lược của Trần Trọng Kim, Hà Tĩnh Ất Dậu ký, chuyên khảo của Đào Trinh Nhất) lại khẳng định ông lâm bệnh kiết lỵ nặng do điều kiện kham khổ nơi rừng thiêng nước độc tại núi Quạt (vùng giáp ranh Quảng Bình - Hà Tĩnh) rồi qua đời. Sau khi ông mất, quân của Nguyễn Thân và mật thám Pháp tìm được nơi an táng, khai quật thi hài đưa về đồn Linh Cảm nhận diện rồi thiêu hủy để rải tro xuống sông La.

Chương II: Phan Đình Phùng với phong trào Cần Vương

Chương II tập trung luận giải vai trò lãnh tụ quân sự của Phan Đình Phùng trong phong trào chống Pháp cuối thế kỷ XIX:

  • Khái quát quá trình xâm lược của Pháp và sự thất thủ kinh thành Huế (tháng 7/1885). Vua Hàm Nghi xuất bôn ra Tân Sở ban Chiếu Cần Vương.
  • Phan Đình Phùng được phong làm "Tán lý quân vụ thống tướng", chịu trách nhiệm tổ chức, lãnh đạo phong trào kháng chiến tại bốn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình.
  • Cuộc khởi nghĩa Hương Khê (1885–1896) do ông trực tiếp lãnh đạo trở thành đỉnh cao tiêu biểu nhất của phong trào Cần Vương. Tác giả phân tích các mặt tổ chức: xây dựng căn cứ liên hoàn hiểm trở tại vùng rừng núi miền Tây (căn cứ Trù Quang, Vụ Quang, Khe Quạt); phối hợp cùng danh tướng Cao Thắng cải tổ quân đội, chia lực lượng thành 15 quân thứ; chế tạo thành công súng trường phỏng theo mẫu súng 1874 của Pháp; áp dụng chiến thuật du kích cơ động, dựa vào địa hình hiểm trở để giáng cho quân Pháp và tay sai nhiều đòn tổn thất nặng nề.

Chương III: Phan Đình Phùng với đóng góp về văn hóa

Chương III làm rõ di sản văn hóa, học thuật của Phan Đình Phùng bên cạnh sự nghiệp quân sự:

  • Khảo cứu bộ sách địa dư - lịch sử Việt sử địa dư: Tác phẩm thể hiện tri thức Nho học sâu rộng, phương pháp biên khảo nghiêm cẩn và ý thức tự tôn dân tộc về chủ quyền lãnh thổ, cương giới nước nhà.
  • Khảo sát hệ thống thơ văn yêu nước: Văn bản phân tích các tác phẩm thơ chữ Hán và văn từ chính luận của ông (được lưu giữ trong các tổng tập văn học). Các áng văn, bài thơ không chỉ bộc lộ khí phách kiên trung, tinh thần quật cường trước hiểm nguy mà còn là nguồn tư liệu phản ánh chân thực tâm tư, lý tưởng trung quân ái quốc gắn liền với vận mệnh nhân dân của một nhà Nho chân chính trước bước ngoặt bi hùng của lịch sử.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp và hệ thống hóa cuộc đời, sự nghiệp của Phan Đình Phùng từ các nguồn sử liệu thành văn đa dạng, cung cấp cái nhìn toàn diện về cả hai phương diện lãnh đạo kháng chiến và trước tác văn hóa.

Dưới đây là bảng tổng hợp đối chiếu các nguồn sử liệu về sự kiện Phan Đình Phùng qua đời và việc xử lý thi hài của ông:

Nguồn sử liệu / Tác giả Nguyên nhân qua đời Địa điểm mất Hành vi đối với thi hài của đối phương
Công điện của Khâm sứ Trung Kỳ & Tuyển tập Thơ văn yêu nước Bị thương nặng trong trận giao chiến ác liệt Vùng căn cứ chiến khu Nguyễn Thân cho đào mộ sau 10–12 ngày, đốt xác thành tro nhồi thuốc súng bắn xuống sông La.
Phan Bội Châu (Việt Nam vong quốc sử) Bị ốm nặng (bệnh tật) qua đời Miền rừng núi chiến khu Quân Pháp bắt một người dân bản địa chỉ mộ, đào xác kiểm tra ngón tay thừa và ấn tín vua ban, phun dầu đốt rồi rắc tro xuống sông.
Trần Trọng Kim (Việt Nam sử lược) Tuổi già, sức yếu, di chuyển gian khổ sinh bệnh Nơi ẩn náu trong rừng Nguyễn Thân xin đốt xác lấy tro trộn thuốc súng bắn đi, nhưng có thuyết nói đem chôn làm bằng chứng.
Tư liệu Hà Tĩnh Ất Dậu ký Nhiễm chướng khí lâu ngày, lâm bệnh nặng qua đời (11/Ất Dậu) Xứ Khe Quạt (giáp Lào, Quảng Bình, Hà Tĩnh) Tướng sĩ chôn cất bí mật trong thân cây gỗ vàng tâm đẽo rỗng, sau bị chỉ điểm đào lên.
Đào Trinh Nhất (Phan Đình Phùng) Bệnh kiết lỵ nặng, kiệt sức (mất ngày 13/11 âm lịch) Dưới chân núi Quạt Liệm bằng cây gỗ vàng tâm đẽo rỗng; sau bị lính bắt được nghĩa binh tra khảo chỉ nơi chôn; đưa về đồn Linh Cảm thiêu xác rải tro.
Tờ yết thị của Nguyễn Thân & Thông tư 83 của Phó sứ Pháp Không nêu rõ bệnh hay bị thương; chỉ ghi "hiện dĩ mệnh chung" Vùng thượng du Quảng Bình (Khe Quạt) Đưa thi hài về đồn Linh Cảm cho cựu thuộc và nhân chứng nhận diện chính thức, sau đó đem thiêu hủy và phân tán tro.

Về đóng góp học thuật, khóa luận đã:

  • Khai thác giá trị của nguồn tư liệu địa phương Hà Tĩnh Ất Dậu ký kết hợp các văn bản hành chính thực dân (Yết thị chữ Hán của Nguyễn Thân, Thông tư số 83 bằng tiếng Pháp) để làm sáng tỏ các tình tiết lịch sử xung quanh những ngày cuối cùng của thủ lĩnh nghĩa quân Hương Khê.
  • Phân tích sâu sắc sự chuyển biến trong nhận thức xã hội của Phan Đình Phùng, đặc biệt là tư duy khách quan, tiến bộ về vấn đề tôn giáo (giải quyết mâu thuẫn lương - giáo) và tinh thần đặt lợi ích dân tộc lên trên ràng buộc gia tộc, dòng họ.
  • Bổ khuyết bức chân dung Phan Đình Phùng trên phương diện văn hóa, chứng minh ông không chỉ thuần túy là một tướng lĩnh quân sự mà còn là một học giả, tác giả của bộ sách Việt sử địa dư.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận phản ánh một số giới hạn khách quan được tác giả thừa nhận trong phần mở đầu và nội dung:

  • Nguồn tư liệu gia phả trực tiếp của dòng họ Phan Đình tại xã Tùng Ảnh (Đức Thọ, Hà Tĩnh) chưa được tiếp cận và thu thập trọn vẹn trong quá trình điền dã địa phương.
  • Các tác phẩm văn thơ và di văn của Phan Đình Phùng hiện còn lại không nhiều và nằm rải rác, gây khó khăn cho việc nghiên cứu sâu về phong cách văn học.
  • Đề tài chủ yếu dựa vào các tư liệu thứ cấp đã xuất bản và một số bản sao lục yết thị, chưa khai thác được nguồn hồ sơ lưu trữ gốc từ kho lưu trữ hải ngoại của Pháp (Chế độ Bảo hộ Trung Kỳ).

Hướng nghiên cứu tiếp theo có thể mở rộng theo các hướng:

  • Đi sâu nghiên cứu văn bản học đối với tác phẩm Việt sử địa dư nhằm đánh giá phương pháp biên soạn địa chí lịch sử của Phan Đình Phùng so với các tác gia cùng thời.
  • Tăng cường điền dã, sưu tầm các di tích, truyền thuyết dân gian, sắc phong, câu đối và gia phả liên quan đến các tướng lĩnh trong 15 quân thứ của khởi nghĩa Hương Khê tại địa bàn Hà Tĩnh, Quảng Bình.

Giá trị tham khảo

Bản khóa luận có giá trị sử dụng thực tiễn trong công tác đào tạo và nghiên cứu:

  • Đối với sinh viên và giảng viên ngành Lịch sử, Sư phạm Lịch sử: Là tài liệu tham khảo có cấu trúc rõ ràng về phương pháp xây dựng một đề tài tiểu sử nhân vật lịch sử cận đại; cung cấp hệ thống thư mục dẫn chứng phong phú từ chính sử đến dã sử.
  • Đối với công tác giáo dục địa phương: Cung cấp tư liệu chi tiết về truyền thống khoa bảng huyện Đức Thọ, phong trào chống Pháp tại Hà Tĩnh, phục vụ trực tiếp cho việc biên soạn chương trình Lịch sử địa phương tỉnh Hà Tĩnh ở bậc trung học phổ thông.
  • Đối với người nghiên cứu phong trào Cần Vương: Cung cấp tài liệu đối chiếu sử liệu về khởi nghĩa Hương Khê, đặc biệt là các văn bản yết thị truy bắt và xử lý thi hài nghĩa quân của chính quyền tay sai thực dân.

Câu hỏi thường gặp

1. Về năm sinh của Phan Đình Phùng, các nguồn sử liệu trong khóa luận ghi nhận những mốc thời gian nào?
Khóa luận chỉ ra hai luồng quan điểm: Luồng thứ nhất cho rằng ông sinh năm Giáp Thìn (1844), căn cứ theo Quốc triều hương khoa lục của Cao Xuân Dục, Tiểu truyện danh nhân của Cố Nhĩ Tân và Từ điển nhân vật lịch sử Việt Nam. Luồng thứ hai khẳng định ông sinh năm Đinh Mùi (1847, cụ thể là ngày 24/4 âm lịch, tức ngày 6/6/1847), được ghi nhận trong nghiên cứu của Đào Trinh Nhất, Giáo sư Đinh Xuân Lâm (Đại cương lịch sử Việt Nam, tập II) và Giáo sư Trần Huy Liệu.

2. Vì sao Phan Đình Phùng bị triều đình bắt giam và cách chức vào tháng 7 năm 1883?
Nguyên nhân do Phan Đình Phùng (khi đó giữ chức Hình khoa Chưởng ấn / Ngự sử) đã kiên quyết đứng lên phản đối hai Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết và Nguyễn Văn Tường làm trái di chiếu của vua Tự Đức, tự ý phế bỏ vua Dục Đức để lập vua Hiệp Hòa giữa cuộc họp triều đình. Sự can gián thẳng thắn này khiến ông bị bắt giam tại trại Cấm vệ rồi bị bãi chức đuổi về quê làm dân thường.

3. Quan điểm của Phan Đình Phùng về vấn đề đồng bào Công giáo và vụ xử phạt linh mục Trần Lục được văn bản lý giải ra sao?
Năm 1878, khi làm Tri huyện Yên Khánh, Phan Đình Phùng đã xử phạt linh mục Trần Lục 10 roi vì vị này cậy thế hiếp dân. Khóa luận khẳng định hành động này xuất phát từ việc trị tội kẻ lộng hành chứ không phải vì định kiến tôn giáo. Ông chủ trương tôn trọng tự do tín ngưỡng, cho rằng đạo Thiên Chúa tôn thờ Chúa Giê-su cũng giống như đạo Phật thờ Thích Ca hay Nho giáo thờ Khổng Tử, mọi người cần tôn trọng đức tin của nhau, việc ai tin đạo nào là quyền tự do cá nhân.

4. Trước ba lần dụ hàng của đối phương, Phan Đình Phùng đã có thái độ và đối sách như thế nào?
Ông kiên quyết cự tuyệt cả ba lần:

  • Lần 1: Khi Lê Kính Hạp ép hàng bằng tính mạng của người anh ruột Phan Đình Thông và mồ mả tổ tiên, ông tuyên bố việc cứu vớt đất nước và hàng triệu đồng bào lớn hơn ngôi mộ và người anh ruột của gia đình.
  • Lần 2: Khi Tuần phủ Võ Khoa gửi thơ khuyên bãi binh, ông họa lại bài thơ khẳng định ý chí quyết tâm giữ trọn tấm lòng trung với nước dù giặc có mạnh như Sở Vương.
  • Lần 3: Tháng 5 năm 1894, khi Hoàng Cao Khải viết thư dụ hàng và đe dọa, ông gửi thư trả lời đanh thép, vạch trần tội ác xâm lược và tay sai, khẳng định quyết tâm chiến đấu đến cùng vì nghĩa lớn.

5. Hai văn bản hành chính nào được tác giả trích dẫn để xác thực việc thi hài Phan Đình Phùng bị phát hiện và thiêu hủy?
Đó là Tờ yết thị ngày 9 tháng 12 năm Thành Thái thứ 7 của Khâm sai Tiết chế Quân vụ Đại thần Nguyễn Thân (thông báo việc đưa thi hài từ Khe Quạt về đồn Linh Cảm để cựu thuộc nhận diện rồi thiêu hủy) và Thông tư số 83 (Colonne de police N° 83) đề ngày 29 tháng 01 năm 1896 của viên Phó công sứ ủy viên Chính phủ Pháp tại Linh Cảm gửi các cấp xác nhận kết quả truy tìm và tiêu hủy thi hài lãnh tụ khởi nghĩa.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Võ Thị Xuân là một công trình khảo cứu lịch sử nghiêm túc, tái hiện có hệ thống cuộc đời, nhân cách và sự nghiệp của Đình nguyên Tiến sĩ Phan Đình Phùng. Bằng việc kết hợp các nguồn sử liệu chính thống với tài liệu dã sử địa phương và văn bản hành chính thời kỳ thuộc địa, tác giả đã khắc họa rõ nét khí phách kiên trung, tài năng lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Hương Khê cũng như những trước tác văn hóa của danh nhân. Công trình đáp ứng chuẩn mực của một khóa luận sư phạm, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác học tập, nghiên cứu và giảng dạy lịch sử địa phương.