Chương 1 CHIẾN TRƯỜNG CỰC NAM TRUNG BỘ CHUẨN BỊ BƯỚC VÀO KHÁNG CHIẾN 1.1 Điều kiện tự nhiên và vị trí chiến lược của vùng Cực Nam Trung Bộ 1.1 Điều kiện tự nhiên Cực Nam Trung Bộ bao gồm các tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận, Khánh Hòa, Đồng Nai Thượng và Lâm Viên (tháng 10 năm 1950, hai tỉnh Đồng Nai Thượng và Lâm Viên hợp thành tỉnh Lâm Đồng). Diện tích tự nhiên 26.151,5 km2 (số liệu năm 2006), phía Bắc giáp tỉnh Phú Yên, phía Nam giáp tỉnh Đồng Nai và Bà Rịa – Vũng Tàu, phía Tây giáp tỉnh Đắc Lắc, Đắc Nông và Bình Phước, phía Đông giáp biển. Đây là khu vực có vị trí đặc biệt quan trọng đối với cả nước. Nằm trong vòng cung Bắc - Nam của dải Trường Sơn; trên trục giao thông Quốc lộ IA và tuyến đường sắt Bắc - Nam; là cửa ngõ nối Nam Bộ - Nam Trung Bộ lên Tây Nguyên.
Từ xa xưa, Cực Nam Trung Bộ là địa bàn sinh sống của các tộc người thuộc ngữ hệ Malayô – Pôlinêxiên và Môn – Khơme. Trải qua bao đổi thay của lịch sử, từ nửa cuối thế kỷ XVII (năm 1653), khi bờ cõi Việt Nam được mở rộng dần về phương Nam, người Việt từ các tỉnh miền Bắc, miền Trung di cư vào khai hoang, lập ấp. Lớp cư dân người Việt đầu tiên đến Cực Nam Trung Bộ là những người nông dân phải rời bỏ quê hương vì loạn lạc triền miên, thiên tai, chế độ phong kiến áp bức, bóc lột, không có đất làm ăn, sinh sống, bị vua quan, cường hào, địa chủ truy nã, đày ải hoặc bị bắt làm tù binh qua các cuộc chinh chiến, nhất là dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh. Công cuộc di dân, khai khẩn đất hoang càng được đẩy mạnh thì người Việt đến vùng đất này ngày càng đông.
Họ liên kết với cư dân bản địa hình thành nên cộng đồng nhiều dân tộc gắn bó với nhau cùng làm ăn, sinh sống. Từ cuối thế kỷ XVIII đến đầu thế kỷ XIX, một bộ phận người Hoa từ các tỉnh ven biển miền Nam Trung Quốc cũng đến đây định cư và lập nghiệp. Tuy tập quán, phong tục và đời sống khác nhau, nhưng cộng đồng các dân tộc đều cần cù lao động, yêu cái thiện, ghét cái ác. Qua đấu tranh với thiên nhiên 11 để sinh tồn, chống áp bức, bóc lột đã gắn bó các dân tộc trên vùng đất này thành một khối thống nhất, đoàn kết, có truyền thống yêu nước nồng nàn, kiên trung, bất khuất; đã hun đúc nên phẩm chất và phong cách tốt đẹp của người dân Cực Nam Trung Bộ: cần cù, dũng cảm, trung thực, nghĩa tình, yêu nước nồng nàn, kiên trung, bất khuất.
Theo số liệu năm 2006, Cực Nam Trung Bộ có tổng dân số là 5.045,100 người (trong đó, Khánh Hòa: 1.000 người, Ninh Thuận: 567.900 người, Bình Thuận: 1.000 người và Lâm Đồng: 1.200 người) với hơn 30 dân tộc anh em đang sinh sống. Trong đó người Kinh đông nhất, chiếm khoảng 85% dân số toàn vùng, tập trung chủ yếu ở đồng bằng, ven biển và trung tâm thành phố, thị xã, thị trấn của các tỉnh. Người Cơho, người Mạ ở Lâm Đồng. Người Chăm tập trung nhiều ở Ninh Thuận, Bình Thuận.
Người Raglay trập trung nhiều ở miền Tây Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Ngoài ra, còn có người Êđê, M’nông, Châuro, Hoa, Thái, Nùng, S’tiêng, Chil, Tày… Địa hình được chia thành 3 vùng rõ rệt: miền núi, đồng bằng ven biển và các hải đảo, vùng nào cũng có giá trị lớn về kinh tế và quốc phòng. Vùng đồng bằng có dân cư đông đúc, có nhiều thành phố, thị xã, hải cảng, là nơi tập trung nhân lực và là động lực kinh tế của Cực Nam Trung Bộ. Đất nông nghiệp tương đối phì nhiêu, thuận lợi cho việc trồng trọt các loại cây lương thực cho năng suất cao (lúc, ngô, sắn, khoai.), cây công nghiệp (cà phê, cao su, chè, dâu tằm, thầu dầu, mía, dừa…), hoa màu và cây ăn trái có giá trị.
Bờ biển Cực Nam Trung Bộ kéo dài từ Mũi Đại Lãnh (Capvarella) đến xã Tân Thắng (huyện Hàm Tân tỉnh Bình Thuận) với chiều dài hơn 700 km, với nhiều bán đảo và hàng trăm đảo lớn, nhỏ xa gần nằm rải rác trên biển. Bờ biển có hình dạng nhấp nhô, lồi lõm tạo thành những hang động kín cho ghe thuyền trú ẩn an toàn. Đặc biệt, huyện đảo Trường Sa là nơi có vị trí kinh tế, an ninh quốc phòng quan trọng của cả nước. Biển Cực Nam Trung Bộ là một trong những vùng biển có tài nguyên phong phú ở nước ta, có nhiều hải sản như tôm, mực, điệp, sò, các loại cá (cá mòi, cá thu, 12 cá ngừ, cá nục…), đặc biệt là yến sào - một loại đặc sản quý hiếm, được mệnh danh là “vàng trắng” có giá trị xuất khẩu cao.
Đây cũng là nơi có nhiều cơ sở chế biến hải sản, cơ sở làm muối, nước mắm nổi tiếng cả nước. Các bãi biển như Đại Lãnh, vịnh Vân Phong, Dốc Lết, vịnh Cam Ranh, Ninh Chữ, Cà Ná, Phan Thiết… là những cảnh đẹp nổi tiếng có giá trị cho ngành du lịch, dịch vụ. Đặc biệt, Hòn Ngọc Việt Nha Trang là khu nghỉ dưỡng cao cấp 5 sao mang tầm quốc tế; Đà Lạt được mệnh danh “thành phố ngàn hoa” là nơi thu hút khách du lịch đến tham quan, vui chơi và nghỉ dưỡng. Lâm Đồng và miền Tây các tỉnh Khánh Hòa, Ninh Thuận, Bình Thuận là vùng núi rừng trùng điệp, phần lớn có độ cao trên dưới 1000 m.
Núi rừng Cực Nam Trung Bộ chiếm 2/3 diện tích toàn vùng, có cao nguyên rộng lớn với hàng triệu ha đất đỏ bazan màu mỡ như: Cao nguyên Lang Biang (cao 1.500m), cao nguyên Di Linh (cao 1. Từ hướng Đông Bắc vòng về Đông Nam và một phần hướng Nam là một dãy núi cao sừng sững với dãy Trường Sơn Nam từ Lâm Đồng kéo xuống bao bọc lấy các thung lũng và đồng bằng, có nơi nhô ra biển Khánh Hòa, Ninh Thuận và Bình Thuận. Cực Nam Trung Bộ có nhiều ngọn núi cao như: Lang Biang (2. Những dãy núi cao này làm bình phong che chắn không cho gió Tây Nam khô nóng tràn xuống đồng bằng.
Rừng núi bạt ngàn, trùng điệp tạo giữ môi trường sinh thái thiên nhiên, và ở đó sinh trưởng nhiều loại cây cỏ, thú rừng, chim muông, các loại bò sát quý. Nhiều lâm thổ sản có giá trị kinh tế cao như: dáng hương, bằng lăng, cẩm lai, mun, cẩm thị, gõ đỏ, căm xe, tràm, tô mộc dầu… và hơn 2 vạn ha rừng thông cho nhựa và gỗ. Đặc biệt, trầm hương là loại hương liệu và vật liệu có giá trị cao. Động vật cũng vô cùng phong phú, đa dạng như: voi, hổ, bò tót, nai, hươu, gấu, khỉ… Mạng lưới sông ngòi ở Cực Nam Trung Bộ khá chằng chịt.
Ngoài các con sông lớn như: sông Đa Nhim, sông Đạ Dung, sông Đồng Nai, Sông Dinh (sông Cái), sông La Ngà, sông Phan, sông Quao, những con sông còn lại đều nhỏ và vừa, lượng nước ít. Do địa hình tự nhiên, các con sông đều ngắn và dốc. Trừ một số ít 13 sông phát nguyên từ dãy Trường Sơn và trở thành phụ lưu của sông Mêkông, phần lớn các sông chảy từ Đông sang Tây, chia cắt địa hình, vì vậy trên các đường giao thông thường có nhiều cầu (trung bình có 0,2 đến 0,4 cầu, nơi cao nhất có đến 4 cây cầu trên 1km đường). Cực Nam Trung Bộ nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, thời tiết chia làm hai mùa rõ rệt (mùa mưa và mùa khô) và có sự chênh lệch giữa hai vùng, giữa các vùng theo độ cao và vĩ độ.
Mùa mưa thời gian ngắn, thường tập trung từ tháng 7 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng 12 đến tháng 6 năm sau. Lượng mưa hàng năm khoảng 1.400mm, nhiệt độ trung bình là 27oC, thấp nhất là 18oC, cao nhất là 37oC. Số giờ nắng trong năm bình quân gần 200 giờ/tháng. Do dãy Trường Sơn bao bọc nên Cực Nam Trung Bộ ít xảy ra bão, thỉnh thoảng có gió lốc.
Mạng lưới giao thông ở Cực Nam Trung Bộ khá phát triển. Nối liền từ Bắc vào Nam là Quốc lộ 1 và đường sắt xuyên Đông Dương; đường 21 từ Ninh Hòa đi Buôn Ma Thuột (Đắc Lắc); đường 11 từ Phan Rang đi Đà Lạt; đường 20 nối Đà Lạt và Thành phố Hồ Chí Minh, giao với Quốc lộ 1 ra Phan Thiết; đường 21 từ huyện Đơn Dương (Lâm Đồng) đi Buôn Ma Thuột; đường số 8 từ Phan Thiết đi Di Linh, từ Di Linh đi Gia Nghĩa (Đắc Nông). Ngoài những trục đường chính, hệ thống giao thông liên tỉnh, liên huyện, liên xã tạo thành một hệ thống liên hoàn, rất thuận tiện cho việc xây dựng phát triển kinh tế, củng cố an ninh quốc phòng. Mạng lưới giao thông này không những có ý nghĩa về mặt kinh tế, xăn hóa – xã hội mà còn có ý nghĩa to lớn về quân sự, tạo thuận lợi cho các lực lượng cơ giới vận tải cơ động lực lượng.
Với các điều kiện thiên nhiên ưu đãi nói trên, các tỉnh Cực Nam Trung Bộ là mảnh đất thuận lợi để phát triển kinh tế hàng hóa, dịch vụ du lịch cũng như xây dựng và củng cố an ninh quốc phòng.2 Vị trí chiến lược của vùng Cực Nam Trung Bộ Từ cấu tạo về địa lý, Cực Nam Trung Bộ hình thành 3 vùng chiến lược hoàn chỉnh: rừng núi, đồng bằng nông thôn và thành thị. Ngay trong nội bộ từng tỉnh cũng có 3 vùng nương tựa vào nhau, bổ sung cho nhau trong chiến tranh nhân dân địa phương cũng như trong tác chiến của các binh đoàn chủ lực. Tuy nhiên, do 14 những đặc điểm về địa lý và dân cư, về kinh tế - xã hội và chính trị nên trong thực tế đã hình thành hai chiến trường: chiến trường đồng bằng ven biển và chiến trường rừng núi trung du (Lâm Đồng là địa bàn chủ yếu của loại hình chiến trường này). Mỗi chiến trường có những đặc điểm cụ thể và vị trí chiến lược riêng.
Chiến trường đồng bằng ven biển là kho nhân, vật lực của ta, nơi ta có phong trào mạnh, nơi có khả năng khai thác lực lượng tại chỗ cho kháng chiến. Dải đất vùng cao phía Tây các tỉnh đồng bằng gắn liền với Tây Nguyên và Đông Nam Bộ là đất căn cứ của Cực Nam Trung Bộ và các tỉnh, là bàn đạp tấn công vào các căn cứ, đô thị của địch ở ven biển, và cũng là bàn đạp tấn công lên Tây Nguyên hoặc tiến vào Đông Nam Bộ.