Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4 trường tiểu học ngô quyền thành phố vĩnh yên vĩnh phúc

Khóa luận tốt nghiệp nghiên cứu các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4 tại trường Tiểu học Ngô Quyền, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, phân tích hiệu quả học tập.

Chuyên ngành

Tâm lí học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp

2014

66
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

1. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Lịch sử nghiên cứu đề tài

1.2. Các công trình nghiên cứu ghi nhớ ở nước ngoài

1.3. Các công trình nghiên cứu ghi nhớ ở trong nước

1.4. Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của khoá luận

1.5. Khái niệm về trí nhớ

1.6. Các quan điểm tâm lí học về trí nhớ

1.6.1. Tâm lí học Gestal về trí nhớ (thuyết cấu trúc về trí nhớ)

1.6.2. Thuyết liên tưởng về trí nhớ

1.6.3. Tâm lí học hiện đại về trí nhớ (thuyết hoạt động về trí nhớ)

1.7. Các quá trình cơ bản của trí nhớ

1.7.1. Quá trình ghi nhớ

1.7.2. Quá trình gìn giữ

1.7.3. Quá trình tái hiện

1.7.4. Quá trình quên

1.8. Các loại ghi nhớ

1.8.1. Ghi nhớ không chủ định

1.8.2. Ghi nhớ có chủ định

1.9. Học sinh tiểu học

1.9.1. Khái niệm học sinh tiểu học

1.9.2. Đặc điểm tâm sinh lý của học sinh lớp 4

1.10. Đặc điểm hoạt động học tập và một số đặc điểm tâm lý của học sinh ở giai đoạn thứ hai Tiểu học có liên quan đến đề tài khoá luận

1.10.1. Đặc điểm hoạt động học tập

1.10.2. Một số đặc điểm tâm lý của học sinh ở giai đoạn thứ hai Tiểu học có liên quan đến đề tài khoá luận

2. CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÁC LOẠI GHI NHỚ CỦA HỌC SINH LỚP 4A1 VÀ LỚP 4A2 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC

2.1. Ghi nhớ không chủ định

2.1.1. Ghi nhớ không chủ định của học sinh ở môn Toán

2.1.2. Điều tra sự ghi nhớ không chủ định của học sinh lớp 4 thông qua hành động giải bài tập của học sinh

2.2. Ghi nhớ có chủ định

2.3. Nguyên nhân ảnh hưởng đến sự ghi nhớ của học sinh

2.3.1. Nguyên nhân chủ quan

2.3.2. Nguyên nhân khách quan

3. CHƯƠNG 3: THỬ NGHIỆM HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CÁC LOẠI GHI NHỚ CHO HỌC SINH LỚP 4A1 VÀ LỚP 4A2 TRƯỜNG TIỂU HỌC NGÔ QUYỀN – THÀNH PHỐ VĨNH YÊN – VĨNH PHÚC

3.1. Mục tiêu thử nghiệm

3.2. Nội dung cơ bản của chương trình thử nghiệm

3.3. Khách thể thử nghiệm và đối chứng

3.4. Kết quả nghiên cứu

3.4.1. Ghi nhớ không chủ định của lớp thử nghiệm và đối chứng

3.4.2. Ghi nhớ có chủ định của học sinh lớp thử nghiệm và lớp đối chứng

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Khóa luận tốt nghiệp

Khóa luận tốt nghiệp này tập trung vào việc tìm hiểu các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4 tại Trường Tiểu học Ngô Quyền, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc. Nghiên cứu này nhằm mục đích nâng cao hiệu quả phương pháp học tậpphát triển kỹ năng ghi nhớ cho học sinh tiểu học. Giáo dục tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng kiến thức và kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển tiếp từ tiểu học lên trung học cơ sở.

1.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích chính của khóa luận tốt nghiệptìm hiểu thực trạng các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4 tại Trường Tiểu học Ngô Quyền. Nghiên cứu này cũng đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả ghi nhớ cho học sinh, góp phần cải thiện chất lượng học tập hiệu quảphát triển kỹ năng trong giáo dục tiểu học.

1.2. Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng các phương pháp học tập như quan sát, điều tra, và thử nghiệm sư phạm để đánh giá thực trạng ghi nhớ của học sinh. Các phương pháp này giúp thu thập dữ liệu chính xác về kỹ năng ghi nhớhọc tập hiệu quả của học sinh lớp 4.

II. Tìm hiểu ghi nhớ

Nghiên cứu tìm hiểu sâu về các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4, bao gồm ghi nhớ không chủ địnhghi nhớ có chủ định. Ghi nhớ không chủ định thường xảy ra khi học sinh tiếp thu kiến thức một cách tự nhiên, trong khi ghi nhớ có chủ định đòi hỏi sự tập trung và nỗ lực từ phía học sinh. Nghiên cứu cũng chỉ ra rằng phương pháp học tập hiệu quả có thể cải thiện đáng kể khả năng ghi nhớ của học sinh.

2.1. Ghi nhớ không chủ định

Ghi nhớ không chủ định là quá trình học sinh tiếp thu kiến thức mà không cần sự cố gắng chủ động. Nghiên cứu cho thấy rằng học sinh lớp 4 thường có xu hướng ghi nhớ không chủ định trong các hoạt động học tập hàng ngày, đặc biệt là trong môn Toán.

2.2. Ghi nhớ có chủ định

Ghi nhớ có chủ định đòi hỏi học sinh phải tập trung và nỗ lực để lưu giữ thông tin. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc áp dụng các phương pháp học tập hiệu quả có thể giúp học sinh cải thiện đáng kể khả năng ghi nhớ có chủ định.

III. Học sinh lớp 4 và giáo dục tiểu học

Nghiên cứu tập trung vào học sinh lớp 4 tại Trường Tiểu học Ngô Quyền, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc, nhằm đánh giá thực trạng ghi nhớ và đề xuất các giải pháp cải thiện. Giáo dục tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng kiến thức và kỹ năng cho học sinh, đặc biệt là trong giai đoạn chuyển tiếp từ tiểu học lên trung học cơ sở.

3.1. Đặc điểm tâm lý học sinh lớp 4

Học sinh lớp 4 có những đặc điểm tâm lý đặc trưng, bao gồm khả năng ghi nhớhọc tập hiệu quả. Nghiên cứu chỉ ra rằng việc hiểu rõ các đặc điểm tâm lý này có thể giúp giáo viên áp dụng các phương pháp học tập phù hợp để nâng cao chất lượng giáo dục.

3.2. Vai trò của giáo dục tiểu học

Giáo dục tiểu học đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nền tảng kiến thức và kỹ năng cho học sinh. Nghiên cứu này nhấn mạnh tầm quan trọng của việc cải thiện phương pháp học tậpphát triển kỹ năng ghi nhớ trong giáo dục tiểu học.

IV. Phương pháp học tập và phát triển kỹ năng

Nghiên cứu đề xuất các phương pháp học tập hiệu quả nhằm cải thiện kỹ năng ghi nhớ của học sinh lớp 4. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập, tạo môi trường học tập tích cực, và khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động học tập chủ động.

4.1. Cải thiện phương pháp học tập

Nghiên cứu chỉ ra rằng việc cải thiện phương pháp học tập có thể giúp học sinh nâng cao học tập hiệu quảphát triển kỹ năng ghi nhớ. Các phương pháp này bao gồm việc sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập và tạo môi trường học tập tích cực.

4.2. Phát triển kỹ năng ghi nhớ

Nghiên cứu đề xuất các biện pháp nhằm phát triển kỹ năng ghi nhớ cho học sinh lớp 4, bao gồm việc khuyến khích học sinh tham gia các hoạt động học tập chủ động và sử dụng các công cụ hỗ trợ học tập.

V. Kết luận và kiến nghị

Nghiên cứu kết luận rằng việc tìm hiểu và cải thiện các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4 tại Trường Tiểu học Ngô Quyền, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc có thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học. Các kiến nghị được đưa ra bao gồm việc áp dụng các phương pháp học tập hiệu quả và phát triển kỹ năng ghi nhớ cho học sinh.

5.1. Kết luận

Nghiên cứu kết luận rằng việc tìm hiểu và cải thiện các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4 có thể góp phần nâng cao chất lượng giáo dục tiểu học. Các phương pháp học tập hiệu quả và phát triển kỹ năng ghi nhớ là yếu tố quan trọng trong việc cải thiện kết quả học tập của học sinh.

5.2. Kiến nghị

Nghiên cứu đề xuất các kiến nghị nhằm cải thiện phương pháp học tậpphát triển kỹ năng ghi nhớ cho học sinh lớp 4. Các kiến nghị này bao gồm việc áp dụng các công cụ hỗ trợ học tập và tạo môi trường học tập tích cực.

12/02/2025
Khóa luận tốt nghiệp tìm hiểu các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4 trường tiểu học ngô quyền thành phố vĩnh yên vĩnh phúc

Trích đoạn nội dung tài liệu

Phần mở đầu: - Phần nội dung: Chƣơng 1: Cơ sở lí luận. Chƣơng 2: Thực trạng các loại ghi nhớ của học sinh lớp 4. Chƣơng 3: Thử nghiệm hình thành và phát triển các loại ghi nhớ cho học sinh lớp 4. - Kết luận và kiến nghị - Tài liệu tham khảo - Phụ lục 5 PHẦN NỘI DUNG Chƣơng 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 1.1 Lịch sử nghiên cứu đề tài Trí nhớ là thuộc tính chung của các vật chất hữu cơ.

Đối với con ngƣời, trí nhớ là điều khiển chủ yếu, điều kiện cơ sở của toàn bộ đời sống tâm lý con ngƣời. Vì vậy trong suốt lịch sử phát triển của khoa học tâm lý, trí nhớ mà đặc biệt là quá trình ghi nhớ thì thƣờng xuyên là đối tƣợng nghiên cứu đƣợc các nhà tâm lý học ƣa thích. Do những cách tiếp cận, mục đích của hoạt động khác nhau nên nghiên cứu về trí nhớ và ghi nhớ hết sức đa dạng.1 Các công trình nghiên cứu ghi nhớ ở nước ngoài Công trình khoa học đầu tiên về ghi nhớ đƣợc Hermann Ebbingheus – một học giả ngƣời Đức tiến hành năm 1885. Đề tài này đã nghiên cứu về cách thức hình thành và ghi nhớ các liên tƣởng trong trí nhớ bằng phƣơng pháp thực nghiệm.

Trong tác phẩm “Phân tích trí nhớ về mặt thần kinh” của A.Luria năm 1970 đã trình bày xuất phát điểm coi trí nhớ là một hoạt động tâm lý có cấu trúc tâm lý và cấu trúc thần kinh của trí nhớ. Công trình: “Child development” do Peter Ornstein và các đồng nghiệp của ông tiến hành năm 1975. Mục tiêu đặt ra của nghiên cứu là thấy đƣợc các khác biệt có nguyên nhân độ tuổi diễn ra trong xu hƣớng trẻ em thƣờng nhẩm lại những từ mà ngƣời ta yêu cầu chúng phải nhớ. Kết quả của công trình khẳng định rằng khả năng nhớ kém hơn của các em nhỏ tuổi liên quan đến việc chúng sử dụng các phƣơng pháp nhớ kém hiệu quả hơn.2 Các công trình nghiên cứu ghi nhớ ở trong nước Công trình “Ghi nhớ máy móc và ghi nhớ có ý nghĩa của học sinh lớp 5,6,8 dùng phương pháp thực nghiệm đo khối lượng từ và số”.

Nhóm nghiên 6 cứu trí nhớ, tổ Tâm lý học, khoa Tâm lý học, Trƣờng ĐHSP Hà Nội do Phạm Minh Hạc chủ trì, 1963. Công trình kết luận rằng : Khối lƣợng nhớ từ lớn hơn khối lƣợng nhớ số. Khối lƣợng ghi nhớ thị giác là tốt nhất, khối lƣợng ghi nhớ riêng rẽ bằng thị giác, thính giác nhỏ hơn khối lƣợng ghi nhớ bằng thị giác, thính giác phối hợp. Quá trình quên xảy ra không theo tỉ lệ thuận với thời gian.

Công trình “Tìm hiểu độ nhanh và độ bền trí nhớ của trẻ mẫu giáo lớn trường mầm non Hoa Sen” do sinh viên khoa Tâm lý – Giáo dục, trƣờng ĐHSP Hà Nội tiến hành năm 2005 đã thu đƣợc kết luận sau : trí nhớ của trẻ mẫu giáo lớn có đặc điểm dễ nhớ, nhớ nhanh nhƣng không bền. Khả năng ghi nhớ của trẻ phụ thuộc vào đặc điểm, tính chất của đối tƣợng ghi nhớ, vào giới tính, vào môi trƣờng, vào điều kiện sống của trẻ và sự giảng dạy của giáo viên.2 Tổng quan các công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài của khoá luận Các nhà tâm lí học Liên Xô cũ đã có những công trình nghiên cứu về vấn đề liên quan giữa tâm lí và hoạt động trong lĩnh vực các quá trình nhớ. Trong các công trình nghiên cứu của V.Dintreko đã xác định sự phụ thuộc của hiệu quả ghi nhớ vào đối tƣợng của hoạt động. Tất cả những gì là đối tƣợng của hành động cần thiết cho việc thực hiện nhiệm vụ đều có thể ghi nhớ một cách chính xác và chắc chắn.

Có những cái tuy đƣợc tri giác rõ ràng, nhƣng không cần cho nhiệm vụ của hành động thì về sau hầu nhƣ không nhớ ra đƣợc. Các tác giả đã đặc biệt quan tâm tới các quá trình tƣ duy tham gia vào ghi nhớ. Công trình nghiên cứu về ghi nhớ: “Phương pháp ghi nhớ theo điểm tựa” của Phạm Minh Hạc, Trương Anh Tuấn đề cập đến việc giảng cho học sinh hiểu ý chính của bài khoá, giảng kĩ những từ mang nhiều lƣợng thông tin nhất trong bài. Cho học sinh gạch dƣới những từ, cụm từ… Qua thực nghiệm, các tác giả đi đến khẳng định: “nếu huấn luyện cho các em học theo phương pháp 7 “điểm tựa” thì giảm bớt được thời gian ghi nhớ theo phương pháp cũ” [2, tr.

Các tác giả đã vạch ra hiệu quả của ghi nhớ logic và huấn luyện cho các em có loại trí nhớ này. Tuy nhiên, các tác giả chƣa giải quyết vấn đề phƣơng pháp ghi nhớ theo “điểm tựa” đƣợc rèn luyện trong những điều kiện nào của dạy học mà mới chỉ đề cập đến việc rèn luyện trí nhớ tách ra khỏi những điều kiện của dạy học nói chung ở trên lớp. Vũ Thị Nho, trong công trình nghiên cứu về trí nhớ của học sinh tiểu học nhận xét: “Đầu tuổi đi học, hầu hết các em còn bị trí nhớ tự do, không chủ định chi phối. Từ lớp 3 trở lên khả năng ghi nhớ có chủ định ở học sinh mới hình thành rõ nét, tuy nhiên trí nhớ không chủ định vẫn song song tồn tại” [10, tr.

Trong công trình nghiên cứu đề tài cấp Bộ (1997), Trần Trọng Thuỷ đã đƣa ra kết luận: Khối lƣợng trí nhớ của học sinh tiểu học tăng lên, học sinh lớp 5 ghi nhớ từ 2, 3 lần học sinh lớp 1. Tính trực quan vẫn giữ vai trò quan trọng trong trí nhớ của học sinh. Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu chỉ xác định đặc điểm chung của trí nhớ học sinh tiểu học, chứ không đi vào nghiên cứu kĩ, tìm hiểu thực trạng các loại trí nhớ của học sinh từng khối lớp ở bậc Tiểu học.3 Khái niệm về trí nhớ “Trí nhớ là một quá trình tâm lí phản ánh những kinh nghiệm đã có của cá nhân dưới hình thức biểu tượng, bao gồm sự ghi nhớ, giữ gìn và tái tạo lại sau đó ở trong óc cái mà con người đã cảm giác, tri giác, xúc cảm hành động hay suy nghĩ trước đây” [13, tr 177]. Trí nhớ phản ánh kinh nghiệm của cá nhân.

Những kinh nghiệm: hình ảnh, khái niệm, rung động, hành động, các thuộc tính của nhân cách mà cá nhân phản ánh, tiếp thu đƣợc trí nhớ lƣu giữ. Trí nhớ không làm thay đổi những gì cá nhân tiếp thu đƣợc. Nét đặc trƣng nhất của trí nhớ là trung thành 8 với tất cả những gì cá nhân đã tiếp thu đƣợc nghĩa là nó hoạt động một cách máy móc và thật thà. Trí nhớ là một hoạt động bao gồm nhiều quá trình: quá trình ghi nhớ, quá trình giữ gìn, quá trình tái hiện, và quá trình quên.

Mỗi quá trình đó có một chức năng xác định nhƣng chúng không đối lập nhau mà thâm nhập vào nhau và chuyển hóa cho nhau. Trí nhớ không chỉ nằm trong giới hạn của hoạt động nhận thức mà nó còn là một thành phần tạo nên nhân cách mỗi ngƣời.4 Các quan điểm tâm lí học về trí nhớ 1.1 Tâm lí học Gestal về trí nhớ (thuyết cấu trúc về trí nhớ) Những nhà tâm lí học Gestal cho rằng: “mỗi đối tượng có một cấu trúc thống nhất các yếu tố cấu thành (chứ không phải tổng số những bộ phận riêng lẻ của nó). Cấu trúc này là cơ sở để tạo nên trong bán cầu đại não một cấu trúc tương tự của những dấu vết, và do đó trí nhớ được hình thành” [13, tr 181]. Tâm lí học Gestal coi nguyên tắc tính trọn vẹn của những hình ảnh nhƣ là một quy luật (đƣợc gọi là quy luật Gestal).2 Thuyết liên tưởng về trí nhớ Thuyết liên tƣởng coi sự liên tƣởng là nguyên tắc quan trọng nhất của sự hình thành trí nhớ nói riêng và sự hình thành tất cả các hiện tƣợng tâm lí khác nói chung.

Theo quan điểm này “sự xuất hiện của một hình ảnh tâm lí trong vỏ não bao giờ cũng diễn ra đồng thời hoặc kế tiếp trong thời gian với một hiện tượng tâm lí khác theo quy luật liên tưởng” [13, tr 180]. Tức là sự vật, hiện tƣợng của thực tế khách quan đƣợc ghi lại hay nhớ lại không phải tách biệt nhau mà liên quan chặt chẽ với nhau theo từng nhóm hay theo từng loại. Do đó sự nhớ lại một số sự vật hay hiện tƣợng này dẫn đến sự nhớ lại một số sự vật hay hiện tƣợng khác. Sở dĩ nhƣ vậy là vì trong thực tế, sự vật và hiện 9 tƣợng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong không gian và thời gian, trong quan hệ giống nhau và khác nhau, thậm chí trái ngƣợc nhau.

Dƣới ảnh hƣởng của mối quan hệ khách quan đó, trên vỏ não hình thành những mối liên hệ thần kinh tạm thời làm cơ sở sinh lý cho quá trình ghi nhớ, nhớ lại. Điều này trong tâm lí học gọi là sự liên tƣởng. Căn cứ vào kích thích hiện tại và biểu tƣợng cũ, ngƣời ta chia liên tƣởng ra làm 4 loại và cũng là quy luật liên tƣởng: a. Liên tƣởng gần nhau về không gian hoặc thời gian do giữa những sự vật hay hiện tƣợng có sự gần gũi nhau về không gian và thời gian mà nhớ đến sự vật này ta cũng nhớ đến sự vật kia.

Liên tƣởng giống nhau về hình thức hoặc nội dung xuất hiện trong khi các sự vật hay hiện tƣợng này có hình thức hay nội dung giống hệt nhƣ những sự vật hay hiện tƣợng trƣớc đây. Liên tƣởng trái ngƣợc nhau xuất hiện giữa các đối tƣợng hiện tại và trƣớc đây có những đặc điểm trái ngƣợc nhau. Chẳng hạn nhƣ thấy đen nghĩ đến trắng, hay có đêm nhớ ngày. Liên tƣởng nhân quả xuất hiện khi sự vật hay hiện tƣợng này là nguyên nhân hay kết quả của sự vật hoặc hiện tƣợng kia.

Nhƣ thấy sự học tập say sƣa, cần cù có thể nghĩ đến kết quả tốt đẹp trong khi kiểm tra. Nhƣ vậy, quan điểm này mới chỉ dừng lại ở sự miêu tả những điều kiện bên ngoài của sự xuất hiện những ấn tƣợng đồng thời. Nói cách khác, quan điểm này mới nhìn thấy sự kiện, hiện tƣợng chứ chƣa lý giải đƣợc một cách khoa học về sự hình thành trí nhớ.3 Tâm lí học hiện đại về trí nhớ (thuyết hoạt động về trí nhớ) Tâm lí học hiện đại coi hoạt động của cá nhân quyết định sự hình thành trí nhớ nói riêng và tâm lí nói chung. Theo quan điểm này: “sự ghi lại, giữ gìn và tái hiện được quy định bởi vị trí, vai trò và đặc điểm của tài liệu đối với 10 hoạt động của cá nhân.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khóa Luận Tốt Nghiệp: Tìm Hiểu Các Loại Ghi Nhớ Của Học Sinh Lớp 4 Trường Tiểu Học Ngô Quyền, Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc là một nghiên cứu chuyên sâu về các phương pháp ghi nhớ của học sinh lớp 4, tập trung vào việc phân loại và đánh giá hiệu quả của từng phương pháp. Bài viết cung cấp cái nhìn chi tiết về cách học sinh tiếp thu kiến thức, từ đó đề xuất các biện pháp giảng dạy phù hợp để nâng cao khả năng ghi nhớ. Đây là tài liệu hữu ích cho giáo viên và nhà nghiên cứu giáo dục tiểu học, giúp họ hiểu rõ hơn về tâm lý và quá trình học tập của học sinh.

Nếu bạn quan tâm đến các phương pháp dạy học hiệu quả, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học vận dụng bản đồ tư duy trong dạy học môn khoa học lớp 5, nghiên cứu này sẽ giúp bạn khám phá cách sử dụng bản đồ tư duy để tối ưu hóa quá trình học tập. Bên cạnh đó, Luận văn thạc sĩ giáo dục học khắc phục khó khăn và sai lầm theo hướng phát triển tư duy phê phán cho học sinh trong dạy học môn toán lớp 4 cũng là một tài liệu đáng đọc, giúp bạn hiểu rõ hơn về cách phát triển tư duy phê phán trong môn toán. Cuối cùng, Luận văn thạc sĩ giáo dục tiểu học tích hợp dạy viết trong việc dạy học các kỹ năng ngôn ngữ khác cho học sinh lớp 4 sẽ mang đến góc nhìn mới về việc tích hợp kỹ năng viết vào quá trình giảng dạy.