Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VE NHU CAU TƯ VAN HƯỚNG NGHIỆP CỦA HỌC SINH LỚP 9, QUẬN THỦ ĐỨC, TP HCM. Sơ lược lịch sử nghiên cứu vẫn đề 1.1 Nghiên cứu nước nguài Tư van hưởng nghiệp đang phát triển khá mạnh trong hệ thông giáo đục đương đại của thé giới hiện nay, không chỉ ở các nước phát triển như Pháp, Mỹ, Anh,. ma ở cả những nước đang phát triển cũng rất quan tâm, trong đó có Việt Nam. Đây được xem như là một công cụ hữu hiệu mang tính chiến lược nham đảm bao chat lượng giáo dục và tao ra sự nhủ hợp giữa hoạt động trong nha trưởng va thị trường lao động ngoài xã hội để hướng tới việc tăng cường chức năng xã hội của các cơ sở giảo dục trong béi cảnh hội nhận va cạnh tranh phát triển lành mạnh.
Đẳng thời, tư vẫn hướng nghiệp được coi là diéu kiện không thé thiểu cho sự lựa chọn va phát triển đúng din nghề nghiệp của thé hệ trẻ. Sau đây, chúng ta cùng điểm qua lịch sử phát triển của tr vẫn hướng nghiệp tại một số nước. + Nghiên cứu ở Pháp Pháp là một trong những nước phát triển sém nhất về tư van hướng nghiệp : Năm 1848: Cuỗn sách “ Hướng nghiệp chọn nghé” dé cập đến những van dé hướng nghiệp cho thanh niên nhằm giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp để sử dụng có hiệu quả năng lực lao động của thé hệ trẻ. - Ngày 25/12/1922 Bộ Công Nghiệp va Thương Nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành nghị định về công tác hướng học, hưởng nghiệp va thành lập Sở hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi.
# Năm 1928, khỏa đảo tạo tư van hướng nghiệp đầu tiên tại Pháp được tỏ chức, sử dụng thử nghiệm Binet, sau đó la các khóa tư van hướng học va hướng nghiện, đến năm 1972, đổi tên khóa đào tao tư vẫn viên định hướng. [3] - Ngày 24/5/1983 công tac hướng nghiệp đã mang tinh pháp ly thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buộc với tat cả các thanh nién dưới 17 tudi. 1960, Pháp tiễn hành thành lập hệ thong các trung tâm thông tin hướng học và hướng nghiện từ Hộ Giáo dục đến khu, tỉnh , huyện, cụm trường,,. 1975, Pháp đã tiến hành cải cách giáo dục đẻ hiện đại hóa nên Giáo dục, cải cách giáo dục ở Pháp chủ ý đặc biệt chăm lo giảng dạy lao động về nghề nghiệp cho học sinh, khac phục khuynh hướng và quan niệm coi giáo dục lao động là một hoạt động giáo dục loại 2 ( đứng sau các môn khoa hoc) Hiện nay, trường của Pháp đã giảm bớt tính han lâm trong việc cung cấp các kiến thức khoa học, tăng tỉ trọng kiến thức có ý nghĩa thực dụng va y nghĩa hướng nghiệp để giúp có những quyết định lựa chọn ngành nghẻ phi hợp với bản thân va như cau xã hội.
+» Nghiên cứu ở Mỹ Hưởng nghiệp xuất hiện đầu tiên ở Mỹ bat đầu từ năm 1850 đến 1940, gan với những cá nhản như Francis Galton, Wilheim Wundt, James Cattell, Alfred Binnet, Franks Parsons, Robert Yerkes, va E. Cuỗi những nim 1800, một hệ thẳng công nghiệp với quy mé lớn ra đời làm thay đổi mạnh mẽ mỗi trưởng làm việc va điều kiện sống. Khu vực dé thị phát triển, cùng với tốc độ phát triển va tập trung hỏa công nghiệp đã thu hút rất nhiều người lao động từ các khu vực néng thôn. Để đáp ứng được các yêu cầu của các nhà máy công nghiệp và điều kiện sống khắc nghiệt, chật chi trong những khu nhà ỗ chuột, một nhu câu đổi mới đã xuất hiện, một vải nha nghiên cứu bắt đầu quan tâm đến hành vi con người, quan tắm đến các điều kiện sống và lảm việc trong xã hội bị thay đổi bởi cuộc cách mạng công nghiện.
Những điều kiện khách quan trên dé phỏi thai và cho ra đời một ngành khoa học , ngành tư van nghề. Davis ( 1871 — 1955) được coi là người đầu tiên để xuất một chương trình hướng nghiệp trong trường học có hệ thẳng. Năm 1907, ông được lam hiệu trưởng trường THPT, đã khuyến khích các giáo viên day tiếng Anh sử dụng các bài luận văn, bài học liên quan mô tả nghề nghiệp, nói lên những hứng thú, những đặc điểm cần phát triển và những tư tưởng, hanh vi không thích hợp cần hạn chế đối với một số nghề nghiệp. Đồng thời với Jess B.
Davis, nhiều trường học ở nhiều nơi khác cũng thực hiện mé hình đó. Frank Parson với phòng tư van tâm lý về nghé nghiệp, đã sử dụng các khái niệm của tâm lý học như những đặc điểm khi chat, tính khí của mỗi con người và đỗi chiếu với những nhân tổ được xem là những yêu cau cơ bản của nghề nghiệp dé đánh giá sự phù hợp (đặc điểm người/nghè), các lý thuyết tâm lý vẻ những xung động của vô thức (Freud, Adler, Jung), sau đó phát triển thành ngành học. Frank Parson đã sử dụng các tiền bộ và cách tính toán vẻ xác suất, di truyền, độ lệch chuẩn, hệ số tương quan của khoa học thông ké khởi xưởng từ thể kỷ trước, đặc biệt các khái niệm thông kê của nhả nhân chủng học Francis Galton (1822-1911),va Karl Pearson ( 1857 — 1936), để thiết lập và tiễn hanh trắc nghiệm, chin đoán tâm lý nghề nghiệp trong tư vẫn hướng nghiệp. [3] Frank Parsons nỗi tiếng là một học giả thông thai, một nha văn hap dẫn, hoạt động không ngừng nghỉ, xứng đáng lả cha đẻ của hướng nghiệp, la người khởi đầu trào lưu tư vẫn hướng nghiệp.
Không ai tiên đoán được sự lớn mạnh của phong trảo, tir khi ông đảo tạo vài chục người năm 1909, đến năm 1994, số người được đảo tạo tư van viên học đường đã lên đến con số 115. [13] + Cliffort Beer: Trong thập ky 1900-1909, với tác phẩm nỗi tiếng “Một tâm hồn tự tim thấy” (A Mind That found itself, 1908), gây ảnh hưởng lớn trong quá trình tắm lý trị liệu và tam lý lam sảng. Sự nghiện quan tầm sức khỏe tam thản của Beer đã góp phản tích cực day mạnh trào lưu hoạt động vì sire khỏe tâm thin va ngành tư vẫn tâm lý ở Mỹ. Từ tác phẩm nay đã đưa ông lên địa vị la người sáng lập tư van sức khỏe tâm thân.
Ông nhận trị liệu cho các bệnh nhân yếm thé, bị hành hung, bị lạm dung đưa vào một bệnh viện là sự kiện rat dang chú ý vào thời đá. Ma đầu cho khoa học trị liệu các bệnh tâm thần. [13] Với sự giúp đỡ của một số nhà tắm lý học như William James Adolph Meyer, các cách thức thanh tay phiền muộn, căng thăng, vệ sinh tâm thần được phỏ biến, giáo dục. Quan chúng được hướng dẫn phòng chong các bệnh tâm thản.
Phong trảo phòng chỗng bệnh tâm thắn, thanh tây tâm trí phát triển, đưa đến sự cải cách luật pháp, cách thức chăm sóc, theo dõi người bệnh sau điều trị, và việc lập các bệnh viện miễn phi cho người bénh tam than. Tư van tam lý va hướng nghiệp nói chung và tu van học đường nói riêng đã sử dụng các khái niệm thong kẽ dé phân tích các hiện tượng tâm lý xã hội, sự phù hợp nghề, sử dụng các khái niệm vẻ những mỗi tương giao nhãn tính hiện hữu trong hiện tượng luận, khái niệm về những dự phỏng, về tưởng tượng trong triết lý của K. Jaspers, Jean-Paul Sartre, Maurice Merleau Ponty. Từ năm 1920-1930, ở Mỹ, tư vẫn tâm lý giáo dục va hướng nghiệp phát triển theo da tién bộ của nên giáo dục học đường, quan tâm đến sự phát triển cả nhan, xã hội va luân lý dao đức của cuộc song.
Tuy vậy, phong trao gặp phải sự chống đối của nhiều trường học cho rằng nha trường chi day học sinh nên học van cơ bản không nên 6m đồm nhiễu trọng trách không chu toản. Cộng với thời kỳ suy thoái kinh tế tram trọng khiến cho tư vẫn học đường phát triển chậm lai. Nam 1940, Quân đội Mỹ sử dụng các nha tâm lý và tư van để tuyến quan và hudn luyện nhân sự, Đây là lúc tư van học đường có động cơ thúc đây tiền hành các trắc nghiệm tim hiểu khả năng, năng lực tinh thin, thé chất của học sinh, và cũng là lúc các nhà tư van học đường chịu ảnh hưởng quan điểm chú trọng mỗi quan hệ hỗ trợ thân chủ, thần chủ trọng tam của Carl Rogers. Carl Rogers (1902-1987) với thuyết Coi trọng con người (The Person-centered approach ) có tắm ảnh hưởng rất lớn, là nha tâm lý học, tâm lý trị liệu hang đầu của thé ky 20, đưa ngảnh tư vẫn tâm lý lên địa vị quan trọng với phương pháp tư van thân cha trọng tâm va học trò [4 trung tim trong tư van học đường.
Phải nói, tư van học đường bắt đầu từ Rogers mới có ý nghĩa lắng nghe, động viên giúp đỡ giải quyết các khỏ khăn trong học tập va chia sẻ tâm tư tỉnh cảm, giải tod stress, cải thién mỗi trường giáo dục, con người nhãn ái, nhân văn được tốn trọng. Tư van học đường bắt đầu được nang lên từ mục tiêu tập trung phat triển nghề nghiệp sang tập trung vào các van dé cá nhân va xã hội của học sinh, sinh viễn, song song với sự lớn mạnh của các trảo lưu nâng cao pháp quyền xã hội va dân sự ở Mỹ. Vao khoảng cuỗi những năm 60 va dau những năm 70, Norm Gysbers va các cộng sự, tiểu bang Missouri, qua các công trinh nghiên cứu chứng minh mối quan hệ thiết thực giữa tư vẫn học đường vả sự thành đạt của học sinh, sinh viên. Nhóm nghiên cứu của Norm Gysbers, đã dua tư van học đường tử một nghẻ nghiệp it ai để ý đến trở thành một hoạt động thiết yếu mang tỉnh chiến lược vaed mục tiêu hệ thông trong chương trình tư van học đường cho moi học sinh từ sơ tiểu học đến trung học (K-12).
Hiện nay, ở Mỹ đã kết hợp chặt chẽ việc tư vẫn nghẻ với chương trình công nghệ và day nghé, họ cũng đã đưa mén *Hưởng dẫn chọn nghề (Career Guidance) vào giảng day trong trưởng pho thông. Từ bắc trung học đến đại học đều có các cô vẫn tâm ly lam việc trong trường. Công việc của họ xuất phát từ nhu câu lựa chọn một nghẻ phủ hợp trong tương lai của học sinh, họ đưa ra lời khuyên cho học sinh nên nộp don xin vao học trưởng đại học nao phủ hợp với trình độ vả năng khiéu học sinh. Chương trinh giáo dục THPT được cau tạo mềm, gồm chương trình A và B.