Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH TẠI TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề Hiện nay, trên thế giới và ở Việt Nam, có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến các đề tài nghiên cứu về quản lý GDHN cho HS tại trường THPT. Khi tìm hiểu và tiếp cận một số công trình nghiên cứu về vấn đề này ở cả trong và ngoài nước, chúng tôi nhận thấy có sự liên quan đến đề tài nghiên cứu, cụ thể sau: 1.1 Các công trình nghiên cứu ở ngoài nước Trong bối cảnh phát triển giáo dục hiện nay, nhiều công trình khoa học về giáo dục được các tác giả ở ngoài nước nghiên cứu, đặc biệt là GDHN cho HS; các tác giả đã quan tâm và làm rõ về lý luận, thực tiễn GDHN, quản lý GDHN cho HS cụ thể như: Hiện nay, GDHN cho HS trên thế giới đã phát triển mạnh hơn 100 năm và đã xây dựng được hệ thống các lý luận và chiến lược phát triển GDHN. Một trong những người tiên phong nghiên cứu lĩnh vực GDHN cho HS là Frank Parsons (1909), giáo sư người Mỹ.
Vào năm 1909, ông đã bàn đến hướng nghiệp cho HS, dựa trên năng lực bản thân, sở trường năng khiếu, hứng thú và sở thích của cá nhân HS (Parsons, 1909). Theo các tác giả James A. Athanasou, Raoul Van Esbroeck và D. Super, khởi đầu lý thuyết GDHN, giáo sư Frank Parsons đã sử dụng cách tiếp cận “yếu tố nhân cách” trong nghiên cứu của mình vào những năm đầu của thế kỷ 20.
Giáo sư cho rằng phải quản lý GDHN sao cho cá nhân thực hiện được 3 yêu cầu sau trước khi chọn nghề (James A. Athanasou và Raoul Van Esbroeck, 2008, tr. 72): - Một là, cá nhân hiểu được các đặc điểm nhân cách của mình một cách chính xác về thái độ, mối quan tâm, khả năng cá nhân,… qua GDHN. - Hai là, đảm bảo cá nhân có kiến thức về nghề nghiệp, thị trường lao động.
- Ba là, đánh giá được một cách hợp lý, khách quan về mối quan hệ giữa các đặc điểm tính cách bản thân phù hợp với thị trường lao động. Trong khoảng thời gian từ năm 1918 đến 1939, tính hiệu quả của lao động được N.Krupskaia, qua nhiều bài viết của mình, đã khẳng định phần lớn phụ thuộc vào sự phù hợp của con người đối với nghề nghiệp (Lê Vân Anh, 1982). Vào nửa đầu thế kỷ 20, thời kỳ công nghiệp hóa phát triển, tạo nhiều lĩnh nghề nghiệp hình thành, tạo tiền đề cho công tác tư vấn hướng nghiệp bắt đầu nhận được sự 7 quan tâm của nhiều quốc gia trên thế giới, vì nó góp phần định hướng nghề nghiệp, thúc đẩy kinh tế - xã hội của đất nước phát triển. Nhiều tác giả đã có những nỗ lực ban đầu trong thiết lập nền móng tư vấn và hướng nghiệp ở Hoa Kỳ và Châu Âu như: tác giả Keller và Viteles, 1937; Watts, 1966; Super, 1974 đã đề cập đến vấn đề này trong tác phẩm Parson ở Hoa Kỳ vào những năm 1900; trong tác phẩm lựa chọn nhân sự ở Pháp của Lahy năm 1910; tác phổ nỗ lực của Gemelli nói về lựa chọn nhân sự ở Ý năm 1912; hay tác phẩm sự tập trung vào hướng nghiệp của Christianen những năm 1911 - 1912 ở Bỉ và những tác phẩm tiên phong năm 1914 - 1915 ở Genneva và London do Reuchlin miêu tả (1964) (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2012).
Ngoài ra, nhóm tác giả Keller và Viteles (1937) đã thực hiện hướng nghiên cứu khác của khi tiến hành khảo sát, so sánh các quốc gia ở Châu Âu, châu Á và đã đưa ra cái nhìn mới về tư vấn và hướng nghiệp trên toàn thế giới. Ở một số quốc gia, nhiều thuật ngữ được sử dụng như: “vocational guidance” (có nghĩa là hướng dẫn nghề), “vocational counselling” (có nghĩa là tư vấn nghề), “information” (có nghĩa là thông tin), “advice ad guidance” (có nghĩa là tư vấn và hướng dẫn) đều mang hàm ý chỉ các hoạt động tư vấn và hướng nghiệp (Nguyễn Minh Đường, Phan Văn Kha, 2006). Song, trong môi trường giáo dục của thế kỷ trước và những năm đầu thập kỷ 21, lĩnh vực tư vấn và hướng nghiệp được phát triển mạnh mẽ. Bên cạnh sự đặc thù của mỗi quốc gia, ở các nước đều xuất hiện các vấn đề chung trong GDHN cho HS về lý luận, thực tiễn, và cần tìm biện pháp khả thi và hiệu quả cho hoạt động GDHN (Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, 2012, tr.
Trong quá trình nghiên cứu về GDHN và quản lý GDHN, các tác giả trên đều đưa ra nhận định chung: Quản lý GDHN cho HS là một nội dung của quản lý trường học, chủ thể quản lý sử dụng một hệ thống tác động của có mục đích, có kế hoạch và phải đảm bảo phù hợp với các quy luật nhằm đạt mục đích GDHN. Nội dung của quản lý GDHN cho HS là tiến trình xây dựng kế hoạch, xây dựng chương trình hoạt động GDHN, trong đó việc xây dựng mục tiêu, chương trình GDHN, xác định từng bước đi, những điều kiện, phương tiện cần thiết phải được xây dựng cụ thể, trong một thời gian nhất định phục vụ GDHN cho HS. Song, trong quản lý GDHN cho HS, khâu quan trọng lại chính là tổ chức, chỉ đạo thực hiện các kế hoạch đề ra, thực hiện chương trình GDHN ở các trường THPT. Ngoài ra, khâu kiểm tra và đánh giá giữ vai trò quan trọng không kém, 8 có chức năng, khả năng điều chỉnh quá trình dạy và học; Đây là công cụ không thể thiếu trong quá trình giáo dục, có tác dụng tạo động lực để đổi mới phương pháp, góp phần cải thiện và nâng chất lượng đào tạo theo mục tiêu giáo dục.
Vào thập niên 1960, nghiên cứu của nhà tâm lý học người Mỹ John Holland (1919-2008) đã thừa nhận có sự tồn tại, tương quan giữa các loại nhân cách với sở thích nghề nghiệp. Trong nghiên cứu của mình, ông đã chỉ ra rằng với mỗi kiểu nhân cách nghề nghiệp khác nhau thì tương ứng có một số nghề mà cá nhân đó có thể chọn để hiệu quả làm việc đạt được cao nhất (James A. Athanasou và Raoul Van Esbroeck, 2008, tr. Từ năm 2002, trong tài liệu có tên là “Tiến trình Copenhagen” đã đề cập đến vấn đề nghiên cứu và xây dựng “Chính sách Châu Âu về GDHN và dạy nghề” (VET) của các nhà làm chính sách giáo dục tại châu Âu (M.
Arthur và các cộng sự, 1989, tr. 26), theo đó, tài liệu nói rõ việc Bộ trưởng giáo dục của các quốc gia thực hiện tổng kết và rút kinh nghiệm về GDHN và dạy nghề đã tổ chức họp 2 năm/lần nhằm cải thiện quản lý GDHN cho HS. Ðến năm 2010, một văn bản có tiêu đề “Ðộng lực mới cho hợp tác ở châu Âu về GDHN và dạy nghề nhằm hỗ trợ Chiến lược phát triển Châu Âu đến năm 2020” đã được Hội đồng Châu Âu ban hành nhằm mục tiêu đưa ra viễn cảnh GDHN và dạy nghề tại các nước Châu Âu (V. Trong tuyên bố chung Copenhagen năm 2002 và Thông cáo Maastricht năm 2004 về việc cải thiện GDHN và dạy nghề, đã bàn luận về nhu cầu học nghề cũng như vai trò của GV hướng nghiệp và dạy nghề nhưng ít nói về quản lý GDHN và dạy nghề.
Tuy nhiên, sau đó, theo Thông cáo Helsinski lại nêu rõ: “cần nhấn mạnh đến việc quản lý tốt hệ thống GDHN và dạy nghề thông qua đáp ứng nhu cầu của cá nhân và thị trường lao động, bồi dưỡng đội ngũ làm công tác này, đảm bảo chất lượng GDHN cấp quốc gia, cải thiện xã hội hóa công tác này” (Century International Commission on Education for the Twenty-First,1996, tr. Trong vòng 30 năm từ 1952 - 1982, với mục đíchiến thiết quốc gia, nâng chất lượng giáo dục phổ thông, nhiều cuộc cải cách giáo dục được Nhật Bản đã thực hiện nhằm đảm bảo đáp ứng các yêu cầu về phát triển kinh tế của đất nước. Theo giáo sư Magumi Nishino, cho rằng việc bồi dưỡng tri thức và kỹ năng cơ bản của những ngành nghề cho HS phổ thông là rất cần thiết trong xã hội, giúp các em hình thành thái độ tôn trọng đối với lao động và khả năng lựa chọn nghề nghiệp tương lai phù hợp với bản 9 thân (Magami Nishino, 1995, tr. “Học tri thức, học làm việc, học cách chung sống và học cách tồn tại" là kết luận của Jacques Delors trong quá trình nghiên cứu và phân tích “Những trụ cột của giáo dục” (Jacques Dolors, 1986, tr.
Từ 4 trụ cột nền tảng của giáo, tác giả cho rằng vấn đề GDHN cho HS phổ thông là một căn bản và không thể thiếu được trong nền giáo dục hiện nay; Song song đó, với việc được học tập tri thức sẽ giúp HS phát triển năng lực qua các hoạt động nghề nghiệp. Lịch sử các nước phát triển như Nhật Bản, Hàn Quốc, nhờ có sự đầu tư đúng đắn về giáo dục và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao nên nhanh chóng phát triển và trở thành các cường quốc về công nghiệp chỉ trong thời gian ngắn. Điều đó cho thấy GDHN góp phần không nhỏ và có vai trò quan trọng trong việc phát triển nguồn nhân lực cho đất nước. Đánh giá chung các công trình nghiên cứu trên thế giới về hoạt động GDHN cho HS đều nhìn nhận vai trò cốt lõi của hướng nghiệp là giúp HS chọn được nghề phù hợp dựa trên năng lực, sở thích, sở trường của các em thông qua tiến trình thực hiện GDHN kết hợp với hoạt động lao động sản xuất, hoạt động tham quan, thực tập ở các cơ sở sản xuất kinh doanh thông qua GDHN trong nhà trường.
Tuy nhiên, các công trình nghiên cứu ở ngoài nước về cách tổ chức và quản lý GDHN cho HS chưa đáp ứng đủ nhu cầu nghiên cứu khoa học hiện nay. Các công trình nghiên cứu ở trong nước Hiện nay, vấn đề quản lý GDHN cho HS tại các trường THPT luôn được Đảng và Nhà nước rất quan tâm. Khảo cứu các công trình nghiên cứu ở trong nước cũng đề cập nhiều về quản lý GDHN cho HS tại các trường THPT thể hiện qua các văn bản và công trình nghiên cứu tiêu biểu như sau: Ở Việt Nam, nhằm đào tạo lớp người lao động mới, vừa hồng vừa chuyên, việc vận dụng sáng tạo các quan điểm về giáo dục của chủ nghĩa Mác – Lênin luôn được Đảng Cộng Sản Việt Nam và Chủ tịch Hồ Chí Minh rất coi trọng. Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, đã chỉ rõ: “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: Học đi với lao động; Lý luận đi với thực hành; Cần cù đi với tiết kiệm” (Hồ Chí Minh, 1962, tr.