phần mở đầu, kết luận, khuyến nghị, danh mục tài liệu tham khảo và các phụ lục, nội dung luận văn đư c trình bày trong 3 chương: Chương1: Cơ sở lý luận của quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp ở trường THPT theo định hướng phân luồng. Chương2:Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS trường THPT tại huyện Tĩnh Gia, tỉnhThanh Hóa theo định hướng phânluồng. Chương3:Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho HS trường THPT huyện Tĩnh Gia, tỉnh Thanh Hóa theo định hướng phân luồng. CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƢỚNG NGHIỆP THEO ĐỊNH HƢỚNG PHÂN LUỒNG HỌC SINH TRƢỜNG THPT 1.Tổng quan vấn đề nghiên cứu Theo UNESCO, hướng nghiệp là một quá trình cung cấp cho người học những thông tin về bản thân, về thị trường lao động và định hướng cho người học, giúp người học có các quyết định đúng đối với sự lựa chọn nghề nghiệp.
Vấn đề chọn nghề của thanh niên không những ảnh hưởng quyết định đến hạnh phúc, tương lai, cuộc đời của các em mà nó còn gắn liền đến sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Ở Thụy Điển, trường Mẫu giáo và Tiểu học chú trọng rèn luyện cho HScác kỹ năng sống trong xã hội, còn ở cấp 3 thì HS đư c sắp xếp chuẩn bị lao động theo tinh thần trường trung học tổng h p. Tại quốc gia này, HS học 5 môn học chính (tiếng Thụy Điển, tiếng Anh, Toán, Khoa học xã hội và Khoa học tự nhiên ). Đây là những môn bắt buộc trong mỗi chương trình, song đư c tổ chức học trong bối cảnh nghề nghiệp riêng của từng chương trình.
Thụy Điển, thường chỉ 1/3 HS tốt nghiệp trung học đư c vào đại học. Một số HS tham gia lực lư ng lao động ngay sau khi tốt nghiệp trung học [12] Ở Ba Lan, các nhà sư phạm quan tâm đến cơ sở khoa học dạy học lao động nghề nghiệp, phối h p giữa trường phổ thông và các trung tâm kĩ thuật tổng h p lấy căn cứ để lập kế hoạch thực tập cho HS, thiết lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại HS hướng nghiệp ngay sau bậc tiểu học, sau lớp 10 HS đư c chia thành 2 nhánh, loại học trở thành công nhân lành nghề, loại học hết lớp 12 phổ thông, sau lớp 12 lại đư c tiếp tục phân loại lần nữa hoặc vào đại học hoặc vào trung cấp nghề.[12] 7 Tại Malaysia, giáo dục trung học phổ thông đư c phân ra các ban: Ban văn chương, bankhoa học, ban kỹ thuật và dạy nghề. Trong khuôn khổ chương trình tích h p,ngoài các môn chính ra, HS lớp 10 và 11 ở các trường trung học phổthông đư c phép chọn học các môn học tự chọn trong các nhóm môn họckhác nhau. Kỳ thi tú tài của Malaixia đư c tổ chức khi HS học hếtlớp 11.
Một số HS trư t kỳ thi này có thể gia nhập thị trường laođộng [12]. Như vậy, giáo dục hướng nghiệp đã xuất hiện từ khá lâu trên thế giới, nó đã khẳng định đư c vai trò, tầm quan trọng của mình đối với HS, giúp cho các em lựa chọn đư c ngành nghề phù h p với khả năng, sở thích và điều kiện hoàn cảnh gia đình, kết h p với nhu cầu của xã hội hiện nay. Ở Việt Nam, giáo dục hướng nghiệp đã đư c tiến hành nghiên cứu và triển khai khá sớm, từ đầu những năm 80 của thế kỷ XX. Quyết định 126/CP ngày 19/3/1981 của Chính phủ đã tạo hành lang pháp lý cho sự phát triển của công tác HN, nhất là HN cho HS phổ thông.
Trong những năm sau đó, GDHN ở nước ta đã đạt đư c một số thành tựu quan trọng, thời kỳ 1982-1996 đư c coi là thời kỳ thịnh vư ng nhất của GDHN. [1] [6] Trong những năm gần đây, Nghị quyết 40 của Quốc hội khoá 10, Chiến lư c phát triển giáo dục giai đoạn 2001-2010, văn kiện đại hội IX, đại hội X của Đảng đã nhấn mạnh việc đổi mới chương trình và sách giáo khoa phổ thông[7] Hoạt động GDHN là nhận đư c nhiều sự quan tâm của các nhà khoa học giáo dục, các nhà quản lý giáo dục; nhiều đề tài nghiên cứu, tài liệu, báo cáo khoa học bàn về hoạt động hướng nghiệp của các tác giả như: Nguyễn Đức Trí, Phạm Tất Dong, Đặng Danh Ánh, Nguyễn Văn Hộ, Phạm Huy Thụ. Công trình nghiên cứu của GS - TSKH Nguyễn Văn Hộ đề cập vấnđề: “Thiết lập và phát triển hệ thống hướng nghiệp cho HS Việt Nam”[14].Trong 8 đó, tác giả xây dựng những luận chứng cho hệ thống hướng nghiệp và dạy NPT trong điều kiện phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, cũng như đề xuất những hình thức phối h p giữa nhà trường, các cơ sở đào tạo nghề, cơ sở sản. xuất hướng nghiệp – dạy nghề, các lực lư ng khác tham.
gia vào công tác GDHN và dạy NPT cho HS phổ thông. Tác giả Phạm Văn Khanh nhận định: “Giáo dục hướng nghiệp trong quá trình dạy các bộ môn khoa học tự nhiên ở trường trung học phổ thông là một việc hết sức khó khăn nhưng hiện tại thiếu một sự chỉ dẫn cụ thể về phương pháp tiến hành, biện pháp thực hiện. Nhìn chung, đây là vấn đề ít đư c quan tâm trong nghiên cứu khoa học giáo dục. Đặc biệt ở nước ta, khi hoạt động hướng nghiệp còn đang là công việc mới mẻ, kinh nghiệm đúc kết chưa nhiều, vì thế chúng ta chưa thể nói tới một cách toàn diện, đầy đủ việc hướng nghiệp cho HS thông qua quá trình giảng dạy các môn học” [18].
Tác giả Trần khánh Đức đã. đề cập đến việc dạy nghề ban đầu cho học sinh phổ thông trung học kỹ thuật Việt Nam và xác định: Nội dung, hình thức phương pháp dạy nghề ban đầu cho HS lớp 10,11 trường phổ thông trung học kỹ thuật theo nhóm nghề xây dựng, các phương pháp và hình thức dạy sản xuất. trong các trường dạy nghề xây dựng đư c sử dụng phù h p với mục đích, nhiệm vụ và nội dung ở trường phổ thông trung học kỹ thuật ở nướcta. Có thể nói rằng, các công trình nghiên cứu khoa học, những quan điểm khác nhau ởtrong nước và ngoài nước, đều nghiên cứu về GDHN cho HS nhằm chuẩn bị cho HS biết cách chọn nghề phù h p, thích ứng với nhu cầu lao động hiện nay và trong tương lai.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 1.1 Hướngnghiệpvàgiáodụchướngnghiệp 1.1 Hướng nghiệp Hướng nghiệp cho HS THPT là bước khởi đầu quan trọng của quá trình phát triển nguồnNL, nên có nhiều lĩnh vực khoa học đề cập đến vấn đề này.
9 Từ giữa thế kỷ XIX đến nay khái niệm hướng nghiệp đư c hiểu theo nhiều góc độ khác nhau như: Tác giả Nguyễn Ngọc Quang cho rằng: Hướng nghiệp là một hệ thống các biện pháp giáo dục nhằm chuẩn bị cho HS sớm có ý thức chọn ngành nghề vừa phù h p với sự phân công lao động xã hội ngay từ khi còn học ở trường phổ thông [24]. Tác giả Hồ Văn Thống định nghĩa: “Hướng nghiệp là một hình thức hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò. Với tư cách là hoạt động dạy của thầy, hướng nghiệp đư c coi như là công việc của tập thể giáo viên, tập thể sư phạm có mục đích giáo dục HS trong việc chọn nghề, giúp các em tự quyết định nghề nghiệp tương lai trên cơ sở phân tích khoa học về NL, hứng thú của bản thân và nhu cầu NL của ngành sản xuất trong xã hội” [25]. Tác giả Nguyễn Văn Hộ, Nguyễn Thị Thanh Huyền xác lại cho rằng:Hướng nghiệp là sự tác động của một tổ h p các lực lư ng xã hội lấy sự chỉ đạo của một hệ thống sư phạm là trung tâm tác động vào thế hệ trẻ, giúp các em quen biết với một số ngành nghề phổ biến để khi tốt nghiệp ra trường các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức về nghề nghiệp tương lai [15] Theo quan niệm trên, trong luận văn này tác giả quan niệm:Hướng nghiệp là sự tác động của một tổ hợp các lực lượng giáo dục vào thế hệ trẻ, giúp các em hiểu biết với một số ngành nghề trong xã hội, để sau khi tốt nghiệp trường phổ thông các em có thể lựa chọn cho mình một cách có ý thức về nghề nghiệp tương lai vừa phù hợp với năng lực, nguyện vọng của cá nhân, vừa đáp ứng được sự phân công của lao động xã hội.
Từ phân tích các khái niệm trên trong luận văn này tác giả nhận tập chung nghiên cứu hướng nghiệp là một hoạt động diễn ra trong phạm vi Nhà trường; Chủ thể của hướng nghiệp là các lực lư ng giáo dục phối h p trong và ngoài Nhà trường. Đối tư ng của hướng nghiệp chính là HS; Mục tiêu của hướng nghiệp là giúp HS xác định đư c nghề nghiệp tương laivừa phù h p 10 với nhu cầu, nguyện vọng của cá nhân, vừa đáp ứng đư c sự phân công của lao động xã hội; 1.2 Giáo dục hướng nghiệp * Giáo dục Giáo dục là một hiện tư ng xã hội chịu sự chi phối và quy định bởi nhiều lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội. Sự phát triển của giáo dục và sự hoàn thiện về chất lư ng giáo dục là yếu tố then chốt tạo ra sự phát triển của xã hội, của nền văn minh nhân loại. [11] Theo các nhà lý luận giáo dục Trần Thị Tuyết Oanh; Phạm Viết Vư ng; Vũ Công Hoàn quan niệm giáo dục đư c hiểu ở 2 mức độ: Giáo dục theo nghĩa rộng và giáo dục theo nghĩa hẹp.
Theo nghĩa rộng, giáo dục được hiểu đó là quá trình tổng thể của các tác động sư phạm, đư c tổ chức một cách có mục đích, có kế hoạch, thông qua hoạt động của nhà giáo dục và đối tư ng giáo dục, nhằm đào tạo con người có phẩm chất, năng lực đáp ứng tốt yêu cầu của xã hội. Theo nghĩa hẹp, giáo dục là bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể, là sự phối h p thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục và đối tư ng giáo dục, nhằm hình thành thế giới quan, niềm tin cộng sản chủ nghĩa, những nét tính cách và những phẩm chất nhân cách cần thiết khác của mỗi cá nhân. [23] Trong phạm vi luận văn này chúng tôi cho rằng giáo dục đư c hiểu như là bộ phận của quá trình sư phạm tổng thể có kế hoạch, nội dung nên: Giáo dục được hiểu là sự phối hợp thống nhất giữa hoạt động của nhà giáo dục và đối tượng giáo dục, nhằm phát triển đức trí, thể mĩ, .