Chương 1: Cơ sở lý luận về quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở trường trung học phổ thông. Chương 2: Thực trạng quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. Biện pháp quản lý hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh ở các trường trung học phổ thông huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG GIÁO DỤC HƯỚNG NGHIỆP CHO HỌC SINH Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 1.
Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1. Các nghiên cứu ở ngoài nước Hơn 100 năm qua, lịch sử về giáo dục hướng nghiệp trên thế giới đã có sự phát triển mạnh mẽ và đã trở thành một trong các lĩnh vực được tích hợp trong giáo dục đào tạo ở nhiều quốc gia. Pháp là một trong những quốc gia nghiên cứu sớm nhất về giáo dục hướng nghiệp. Vào năm 1848, những người làm công tác hướng nghiệp ở Pháp đã xuất bản cuốn sách “Hướng nghiệp chọn nghề” [41], được xem là cuốn sách đầu tiên nói về hướng nghiệp với mục đích giúp đỡ thanh niên trong việc lựa chọn nghề nghiệp.
Năm 1922 Bộ Công nghiệp và Thương nghiệp Cộng hòa Pháp đã ban hành nghị định về công tác hướng học, hướng nghiệp và thành lập Sở Hướng nghiệp cho thanh niên dưới 18 tuổi. Năm 1938 công tác hướng nghiệp đã mang tính pháp lý thông qua quyết định ban hành chứng chỉ hướng nghiệp bắt buộc đối với tất cả thanh niên dưới 17 tuổi, trước khi trở thành người làm việc trong các xí nghiệp thủ công, công nghệ hoặc thương nghiệp. Năm 1960, Cộng hòa Pháp đã thành lập hệ thống các trung tâm thông tin hướng học và hướng nghiệp từ Bộ Giáo dục đến khu, tỉnh, huyện và cụm trường. Năm 1975, Cải cách giáo dục ở Pháp đã chú ý chăm lo giảng dạy lao động và nghề nghiệp cho học sinh.
Liên Xô (Nga ), Năm 1897 cuốn sách về hướng nghiệp “ Lựa chọn khoa và điểm qua chương trình đại học tổng hợp” tác giả giáo sư trường đại học tổng hợp Petecbua.Kapeev) được xuất bản lần đầu tiên có nêu lên ý nghĩa lựa chọn nghề khi thi vào trường đại học. Ở những năm 20, 30 của thế 9 kỷ XX, công tác giáo dục hướng nghiệp được triển khai trên đất nước Liên Xô nhằm định hướng lao động phục vụ cho sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Năm 1930, tại Matxcơva đã thành lập phòng tư vấn và lựa chọn nghề nghiệp trực thuộc Trung Ương Đoàn cộng sản Leenin. Đến những năm 1960, nhiều nhà nghiên cứu như E.A Kruchetxki đã quan tâm phát triển công tác giáo dục hướng nghiệp mạnh mẽ hơn.
Các tác giả tập trung nghiên cứu về hứng thú nghề nghiệp, động cơ chọn nghề, các giá trị về nghề mà học sinh quan tâm, từ đó đưa ra những chỉ dẫn để giúp học sinh chọn nghề phù hợp. Ở Đức, năm 1925 - 1926 đã có 567 phòng tư vấn nghề nghiệp đặc biệt với việc hỗ trợ hơn 400.000 thanh niên lựa chọn nghề nghiệp trong một năm. Các nhà nghiên cứu, các nhà sư phạm quan tâm đến khoa học dạy học lao động nghề nghiệp, đã xác lập mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và nghề nghiệp, hướng nghiệp và phân loại học sinh hướng nghiệp ngay sau mỗi bậc học. Họ cũng quan tâm đến nội dung, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học lao động nghề nghiệp, tổ chức cho học sinh phổ thông thực tập ở các nhà máy, xí nghiệp, ở các cơ sở kinh doanh - dịch vụ.
Ở Mỹ, Vào những năm đầu của thế kỷ XX, giáo sư Frank Parsons đã nghiên cứu đưa ra lý thuyết về giáo dục hướng nghiệp với cách tiếp cận “ yếu tố nhân cách”. Ông cho rằng để chọn được nghề phù hợp thì mỗi cá nhân phải hiểu được chính xác đặc điểm nhân cách của mình, có kiến thức về các lĩnh vực nghề và đánh giá khách quan và hợp lý về mối quan hệ giữa đặc điểm tính cách bản thân với thị trường lao động. Đến những năm giữa thế kỷ XX, nhà tâm lý học Jonh Holland đã nghiên cứu và thừa nhận sự tồn tại các loại nhân cách và sở thích nghề nghiệp. Ông cho rằng con người có xu hướng chọn nghề mà môi trường làm việc ở đó, họ sẽ thể hiện được cái tôi của mình.
Lý thuyết này được các nhà quản lý nhân sự và quản lý giáo dục 10 hướng nghiệp sử dụng rộng rãi trên thế giới và đạt hiệu quả. Ở Nhật Bản, từ năm 1952 - 1982 nhiều cuộc cải cách giáo dục đã được tiến hành, với mục đích đảm bảo cho giáo dục phổ thông đáp ứng các yêu cầu phát triển kinh tế cụ thể của đất nước. Trong đó, nhiều biện pháp đã được áp dụng để nâng cao trình độ đào tạo nghề nghiệp và khoa học tự nhiên trong các trường tiểu học và trung học cơ sở. Quan tâm đến mối quan hệ giữa giáo dục phổ thông và giáo dục dạy nghề, trong đó chú trọng giáo dục nghề là hướng chọn cơ bản.
Ở các nước ASEAN: Đã và đang tăng cường GDHN cho học sinh phổ thông - Tại Malaysia: Một trong những chức năng chính của giáo dục bên cạnh việc góp phần phát triển nhân cách là xây dựng nguồn nhân lực. Mục tiêu của khoá học phổ thông 9 năm (từ lớp 1 - lớp 9) là tạo điều kiện cho mỗi học sinh có cơ hội bước vào ngưỡng cửa nghề nghiệp. - Tại Philippin: Một trong những mục tiêu giáo dục phổ thông là đào tạo nguồn nhân lực với trình độ tay nghề cần thiết để có thể lựa chọn nghề. Chính vì thế ở cấp II đã thực hiện giáo dục nghề nghiệp và chuẩn của học sinh là phải đạt được những kiến thức, kĩ năng, thông tin nghề nghiệp và tinh thần làm việc tối thiểu cần thiết để có thể chọn nghề.
Sang cấp III tập trung vào một số lĩnh vực cụ thể như hướng nghiệp – dạy nghề. - Tại Thái Lan: Ngay từ Tiểu học đã trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản, kĩ năng tối thiểu của một số công việc nội trợ, nông nghiệp và nghề thủ công. Sang cấp II đẩy mạnh công tác GDHN gắn với một nghề trên cơ sở phù hợp với độ tuổi, sở thích, nhu cầu của mỗi học sinh. Đây là bước tiền đề cho học sinh vào cấp III.
Giáo dục nghề nghiệp gắn liền với hướng nghiệp nhằm cung cấp cho học sinh những kĩ năng nghề nghiệp. Tất cả các trường phải dạy nghề theo quy định của Bộ, học sinh đạt chuẩn sẽ được cấp 11 chứng chỉ nghề. Chủ tịch Ủy ban quốc tế về giáo dục của UNESCO, Jacques Delors khi phân tích những trụ cột của giáo dục toàn cầu đã viết: “Học để biết, học để làm việc, học để làm người, và học để chung sống với nhau”. Kết quả của giáo dục phải được thể hiện rõ ở thế hệ trẻ năng lực “sống – làm việc – phát triển”.
Theo tác giả vấn đề học nghề phổ thông là một căn bản không thể thiếu được. Tác giả đã nhấn mạnh việc học sinh có cơ hội phát triển năng lực của mình bằng cách tham gia các hoạt động nghề nghiệp song song với việc học tập tri thức. Các nghiên cứu ở trong nước Năm 1960, Chủ tịch Hồ Chí Minh có quan điểm định hướng “Trong việc giáo dục và học tập phải chú trọng đủ các mặt: đạo đức cách mạng, giác ngộ xã hội chủ nghĩa, văn hóa, kỹ thuật, lao động và sản xuất”. Người cũng đã khẳng định: “Nhà trường xã hội chủ nghĩa là nhà trường: - Học đi với lao động - Lý luận đi với thực hành - Cần cù đi với tiết kiệm”.
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề cập đến một yếu tố mới của giáo dục. Đó là, “Việc cung cấp cho học sinh những tri thức cơ bản về kỹ thuật sản xuất công nghiệp và nông nghiệp” và “Những ngành sản xuất chủ yếu” trong xã hội. Đó cũng chính là những nội dung giáo dục kỹ thuật nghề nghiệp của giáo dục nước ta lúc bấy giờ. Ngày 14/5/2018 phó Thủ tướng ký Quyết định số 522/QĐ-TTg về việc Phê duyệt đề án “Giáo dục hướng nghiệp và định hướng phân luồng học sinh trong giáo dục phổ thông giai đoạn 2018-2025”[12].
Có thể coi quyết định này là một mốc quan trọng đối với sự phát triển giáo dục trong hệ thống nhà trường phổ thông, bởi từ thời điểm ấy, hướng nghiệp được chính thức coi như là một môn học và đồng thời được coi như một hoạt động có trong các tiết dạy của các môn học. Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX ghi rõ: Thực hiện phương châm 12 "học đi đôi với hành, giáo dục kết hợp với lao động sản xuất, nhà trường gắn với xã hội". Coi trọng công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh trung học, chuẩn bị cho thanh niên, thiếu niên đi vào lao động nghề nghiệp phù hợp với sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong cả nước và từng địa phương. Ở Đại hội Đảng lần thứ XI, Đảng ta đã xác định đổi mới toàn diện giáo dục - đào tạo, yêu cầu dạy học phân ban và tự chọn ở cấp THPT trên cơ sở làm tốt công tác hướng nghiệp và phân luồng học sinh từ cấp THCS [24].
Đây là các cơ sở để định hướng cho việc nghiên cứu và hoạt động giáo dục hướng nghiệp, dạy nghề trong các trường phổ thông hiện nay. Bên cạnh đó, các nhà tâm lý học, giáo dục học, xã hội học, kinh tế học, chính trị học đã có nhiều công trình nghiên cứu và phát triển hoạt động giáo dục hướng nghiệp theo nhiều khía cạnh khác nhau. Các tác giả Đặng Danh Ánh, Phạm Tất Dong, Đoàn Chi nghiên cứu về hứng thú, khuynh hướng nghề nghiệp của học sinh và xây dựng chương trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh. Tác giả Nguyễn Văn Hộ đã nghiên cứu, khái quát lý luận và thực tiễn cho hệ thống giáo dục hướng nghiệp phổ thông và đề xuất các hình thức phối hợp giữa nhà trường với cơ sở sản xuất, đào tạo nghề trong việc hướng nghiệp và dạy nghề cho học sinh phổ thông [27].
Tác giả Hà Thế Truyền với đề tài “Hướng nghiệp và phân luồng học sinh phổ thông bậc trung học”, học sinh sau khi học xong THCS dự thi vào THPT, vào Trung cấp chuyên nghiệp, vào các trường dạy nghề dài hạn, học nghề ngắn hạn, học tại các trung tâm giáo dục thường xuyên, tham gia vào thị trường lao động. Đã trình bày các giải pháp về phân luồng, hướng nghiệp học sinh.