CHƯƠNG I. SỰ DI CƯ CỦA NGƯỜI AN ĐỘ DEN DONG NAM A TỪ SAU THE KY XVHI DEN THE KY XX Người dân Án Độ đã có mặt ở Đông NamA từ rat lâu trong lich sử. Có vô số lời kế về các thương nhân, nha thuyết giáo và nhà thám hiểm đã mạo hiểm ra biển cả và gây ảnh hưởng đến phan phía đông của thé giới, đến mức ‘An Độ hóa' về mặt xã hội, văn hóa, tôn giáo và theo nhiều cách khác. Tuy nhiên, trong thời kỳ thuộc địa, các cuộc di cư được chính phủ tài trợ đưới hình thức lao động, quan chức và nhà cung cấp dịch vụ đã hình thành, sau đó đẫn đến các khu định cư lâu dài.
Sự ý thức lãnh thô xuất hiện khi những người định cư trở thành một phân không thê thiếu trong đời sông kinh tế và chính trị của các xã hội tiếp nhận, trong khi vẫn tiếp tục gắn bó với quê hương. Thời kỳ hiện đại, sự di cư của các chuyên gia và doanh nhân lành nghé Và lay nghé cao cùng với sự mở cửa của Án Độ đổi với Đông Nam Á đã mang lại một diện mạo và bản sắc mới cho các cộng đông An Độ trong khu vực. Có thé nói, các mdi liên hệ giữa An Độ và Đông Nam A kế từ thời kỳ đầu đặc trưng bởi các cuộc di cư vòng tròn (circlar migration). Sự di cư của người An Độ đến Malaysia 1.
Nguyên nhân của sự di cư Mối liên hệ của Malaya với An Độ có từ thời kỳ tiền Cơ đốc giáo. Bên cạnh việc người An Độ di cư ra nước ngoài đến Malaya và món nợ của văn hóa Mã Lai đối với An Độ cô dai, hiểm khi có một số lượng lớn người An Độ ở Malaya trong thời kỳ tiên Anh, ước tính khoảng 1.000 người Án Dộ hiện nay ở Malaysia đều là người nhập cư hoặc con cháu của những người nhập cư. Người Án Dộ bắt đầu đến Malaya vào năm 1786 khi người Anh nắm quyền kiểm soát Penang, nhưng nó chỉ trở thành một đặc điểm quan trọng trong nhân khâu học của người Mã Lai vào nửa sau của thế kỷ 19 sau khi củng cỗ quyền lực của Anh ở Malaya và mở cửa dat nước. Người An Dé bắt đầu đến Malaya vào năm 1786 khi người Anh nắm quyền kiểm soát Penang, dan dan mở rộng ảnh hưởng của minh vào đất liền cho đến năm 1909, thực sự kiểm soát toàn bộ Malaya.
Sự ôn định chính trị sau đó cùng với sự khuyến khích tích cực của chính quyên đã dẫn đến một dong vốn lớn, đặc biệt là từ châu Au dé vào các dự án phát triển của Malaya, đặc biệt là nông nghiệp thương mại quy mô lớn. Trước khi có làn sóng di cư lao động Án Độ vào Malaya vào những năm 1800, các khu định cư của người Án Độ ở Malaya chủ yếu gồm các thương gia và thương nhân. Từ thé kỷ 19, người đa đó làm thuê trong các đồn điền và bến cáng. Họ bắt dau 10 với việc trồng các loại cây như gia vị và hạt tiêu vào những năm 1820, mía vào những năm 1830 và cà phê vào những năm 1870, nên nông nghiệp đồn điển đã đạt đến đình cao với 'cơn sốt cao su’ vào những năm đầu của thé kỷ hiện tại.
Ở thời điểm đó, có rat ít thiết bị cơ khí giúp tiết kiệm sức lao động hoặc phù hợp với điều kiện địa phương ở Malaya thé kỷ 19 và đầu thé ký 20. Trong mọi trường hợp, phân lớn công việc mới ít nhất là trên các đôn điện déu không dé dàng áp dụng các phương pháp máy móc. Cùng với việc người Mã Lai tỏ ra không có động lực làm việc, trong khi người Trung Quốc tìm kiếm những công việc khác có thu nhập cao hơn, tuy nhiên lao động châu Phi và châu Âu đều không khả thi, người Java thì vừa khó kiếm vừa đắt đỏ, và cuối cùng thì người An Độ là trở thành một thành phan quan trọng. Trong số những người dân của tiêu lục địa An Độ.
nông dân Nam An Độ, đặc biệt là Madrasi! thuộc tang lớp tiện dân hoặc thắp hơn, được coi là loại người lao động phù hợp nhất đối với những công việc nhẹ nhàng, đơn giản. lặp đi lặp lại. Việc thích nghi với các điều kiện của người Malaya tương đối để dàng hơn đối với với lao động Ấn Độ vì Nam Án Độ không hoàn toàn khác biệt với Malaya về mặt khí hậu. Hơn nữa, lao động Án Độ đã thích nghí với mức sống thấp, đã quen với sự cai trị của Ánh.
Nhìn chung, những đặc điểm này của người công nhân Nam An da khiến Án D6 gần như trở thành lao động lý tưởng cho chủ nghĩa tư bản ở Malaya. Hơn nữa, nhiều quan chức chính phú châu Âu và chủ đôn điền, đặc biệt là trong thời kỳ trồng ca phê rộng rãi, đã đến Malaya từ Sri Lanka (Ceylon?), nơi ho đã quen với lao động Nam An Độ. Mặc dù mức sống thấp của nông dân Nam Án Dộ là nguyên nhân thúc đây việc đi cư của họ, nhưng các thé chế xã hội và phong tục thường chống lại điều đó. Dong thời, tiền lương ở Malaya hiếm khi cao hơn 2/3 so với tiên lương ở Sri Lanka hoặc Myanmar (Miễn Điện), cả hai đều mong muốn lao động từ Nam Án Độ.
người ta tin rằng vùng đôn điền của Malaya, với bệnh sốt rét hoành hành và các bệnh khác. là một cái bẫy chết chóc chực nuốt chửng dân số dư thừa của Án Độ. Tuy nhiên, vì nguồn cung cấp lớn lao động giá rẻ là cần thiết cho sự phát triển kinh tế của đất nước, Chính phủ Malaya, cùng với những người chủ đồn điền và những người sử dung lao động khác, đã dan khắc phục những bat lợi trên trong suốt những năm cuối thé kỷ 19 và đầu thế ký 20. Điều kiện làm việc nhìn chung đã được cải thiện và tiền lương được nâng lên đề cạnh tranh với Myanmar va Sri Lanka.
! là một ur ngữ địa phương danh cho những người đến từ miễn nam An Đỗ. đặc biệt là Tamil Nadu. * Tén gọi cũ của đất nước Sri Lanka trong thời kỳ thuộc địa Anh H1 Năm 1887, chính phủ thành lập Uy ban Nhập cư An Độ dé khuyến khích và giám sát việc nhập khâu lao động Nam Án Độ. Chính phủ An Độ đã bị thuyết phục rút lại hau hết các hạn chế đối với việc di cư của thần dân sang Malaya.
Các trạm và trại di cư được thành lập ở Nam Án Độ và Malaya dé tạo điều kiện thuận lợi cho việc tuyển dụng, vận chuyên và phân tán, đồng thời một chiến dịch tuyên truyền nhằm kích thích nhập cư đã được thực hiện ở cả Malaya và Án Độ. Kết quả là đã phát triển một dòng lao động ồn định từ Nam An Độ đến Malaya. Một phương thức tuyên dụng lao động thay thế cho Malaya đã phát triển vào cuỗi thế kỷ 19 được gọi là hệ thống kangany. Kangany là từ tiếng Tamil có nghĩa là người giám sát hoặc cấp trên.
Không giống như hệ thông khế ước theo đó hầu hết nam giới di cư, hệ thống kangany đã mở đường cho nhiều gia đình di cư đến Malaya. Nó cung cấp phan lớn lao động cho các đồn điền cà phê và cao su của người Mã Lai. Phan lớn lao động An Độ nhập cư thuộc diện lao động được hỗ trợ. Điều kiện kinh tế tôi tệ, bao gồm cả cuộc Dai suy thoái những năm 1930, dan đến nhu cầu lao động giảm và do đó, việc tuyên dụng kangany cũng giảm.
Nó cuối cùng đã bị bãi bỏ vào năm 1938 khí tat cả các cuộc đi cư được hỗ trợ đã bị Chính phú An Độ. Tuy nhiên, người Án Độ tiếp tục di cư đến Malaya với tư cách là những người lao động tự do. Cho đến nay. trong tâm chính là đi cu lao động An Độ.
Mặc dù những người nhập cư An Độ chuyên nghiệp và phi lao động khác tương đối ít hơn, nhưng họ đã thực hiện độc quyền ảnh hưởng chính trị, kinh tế và xã hội trong cộng đồng Án Độ. Ban đầu đến Malaya thông qua Chính phủ Malaya và những nhà tuyển dụng, hỗ trợ hoặc khuyến khích tư nhân. Một số lượng đáng kê người Án Độ được giáo dục bằng tiếng Anh sau đó bắt đầu chuyên đến Malaya theo ý muốn của họ và bằng phương tiện riêng của họ dé đảm nhận các chức vụ như quan chức chính phủ cấp dưới hoặc phụ tá đồn điền. Những người da đỏ khác đến với tư cách là nông dân và những người theo trại trong khi một số người Bắc Án Độ.
đặc biệt là người Sikh. họ tìm thấy chỗ đứng của mình trong hàng ngũ quân đội. cảnh sát và những mục tiêu tương tự khác. Những nhà thầu nhỏ, thương gia, người cho vay tiền, chủ ngân hàng, chú cửa hàng và những người tương tự như vậy đã nhập cư vào Malaya từ khi thành lập Penang.
Nỗi bật trong số họ là các thương nhân theo đạo Hindu và đạo H6i từ bờ bién Coromandel và Malabar, các thương nhân dét may từ Sind và Punjab, và những kẻ cho vay tiền Chettiar từ Phủ Tông thong Madras. Những người này dan dan đảm nhận vai trò tiểu tư sản trong các cộng đông người Án Độ ở Malaya. Không có bằng chứng đáng giá nao liên quan đến loại người nhập cư này được lưu giữ, nhưng rõ ràng là số lượng của họ tăng lên tương ứng với các tang lớp khác vào cuối những năm 1930 va lại tăng thêm một lần nữa sau khi 12 tiêu lục địa Án Độ bị phân chia. Tuy nhiên, dòng người này hầu như đã vơi dần do cơ chế nhập cư có chọn lọc do Chính phủ Malaya khởi xướng vào những năm 1950.
Sự di chuyên của người An Độ sau đó chú yếu giới hạn ở những người đến An Độ dé thăm người thân hoặc một số ít chuyên gia có liên quan đến công việc trong các dự án cụ thể được phép vào Malaya. Mô hình này khó có thé thay đổi đáng ké trong tương lai gan 1. Đặc điểm quan trọng về sự di cư của người An Độ đến Malaya hiện đại Thứ nhất, phần lớn phong trào này mang tính chất phù du. với khoảng 4,2 triệu người nhập cư và 3 triệu người rời khỏi đất nước trong khoảng thời gian tir 1786 đến 1957.
- _ Thứ hai, phần lớn trong số 1,2 triệu người nhập cư ròng trong giai đoạn này dường như đã bị xóa số bởi bệnh tật, kiệt sức va suy dinh dưỡng. vì dân số Malaya của An Độ vào năm 1957 chi có 820.270 người trong đó 62,1% là người ban địa. - _ Thứ ba, nó chủ yếu là phong trào lao động An Dé giáo ở Nam Án Độ, chủ yếu là người Tamil.