CHƯƠNG 1: TONG QUAN VAN DE NGHIÊN CỨU 1.1 Các khái niệm liên quan 1.1 Tích hợp LAD Khai niệm Theo Tir điền tiếng Việt, tích hợp có nghĩa là “/dp ráp, nỗi kết các thành phan của mot hệ thông theo quan điểm tạo nên một hệ thống toàn bộ ” (Hoàng Phê, 2002, tr. Tích hợp theo quyền Day học tích hợp phát triển NL HS (quyền 1 — Khoa học tự nhiên) định nghĩa ` Tích hợp có nghĩa là sự hợp nhất, sự hòa nhập, sự kết hợp. Đó là sự hợp nhất hay nhất thể hóa các bộ phận khác nhau để đưa tới một đối tượng mới như là một thé thong nhất dựa trên những nét bản chất của các thành phân đối tượng chứ không phải là phép cộng giản đơn những công tinh của các thành phan ấy. Như vậy, tích hợp có hai tinh chat cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau và quy định lan nhau, đó là tính liên kết và tính toàn ven.” (Đỗ Hương Trà, 2015, tr.
Về từ nguyên, tích hợp (Integration) có nguồn gốc từ tiếng La tinh với nghĩa là xác lập cái chung, cái toàn thé, cái thong nhất trên cơ sở các bộ phận riêng lẻ, tức 1a kết hợp các phản, các bộ phận với nhau trong một tông thé. Như vậy, tích hợp có thé hiểu một cách khái quát là sự kết nỗi, cộng hưởng của các đối tượng riêng lẻ có điểm chung vẻ hệ thong quản lí và chúng kết hợp với nhau dé tạo nên một chính thé thống nhất, phát triển hơn. Việc tích hợp luôn yêu cầu sự đảm bảo kết hợp hai hoa, đồng nhất, không hoạt động riêng lẻ mang tính cá nhân.2 Phan loại Xét theo mức độ tích hop, d’Haiinaut (1977), có thê chấp nhận bốn quan điểm khác nhau đối với các môn học như sau: * Quan điềm “trong nội bộ môn học”, trong đó chúng ta ưu tiên các nội dung của môn học. Quan điểm này nhằm duy trì các môn học riêng rẽ.
* Quan điểm “da môn”, trong đó chúng ta dé nghị những tình hudng, những “de tài” có thé được nghiên cứu theo những quan điểm khác nhau nghĩa 1a theo những môn học khác nhau. Ví dụ, tôi có thể nghiên cứu vấn dé nhà ở theo quan điểm kiến trúc, theo quan điểm mĩ học, theo quan điểm lịch sử, theo quan điểm nhân chủng học, v. Theo quan điểm này, những môn học tiếp tục được tiếp cận một cách riêng rẻ và chỉ gặp nhau ở một số thời điểm trong quá trình nghiên cứu các đề tải. Như vậy, các môn học không thực sự được tích hợp.
* Quan điềm “liên môn", trong đó chúng ta dé xuất những tình huống chỉ có thé được tiếp cận một cách hợp lí qua sự soi sáng của nhiều môn học. Vi dụ, cau hỏi “Tai sao những con voi được bảo vệ?” chỉ có thê giải thích dưới ánh sáng của nhiều môn học: địa lí, lịch sử, toán học,. Ở đây chúng ta nhắn mạnh đến sự liên kết các môn học, làm cho chúng tích hợp với nhau đê giải quyết một tình huống cho trước: các quá trình học tập sẽ không được dé cập một cách rời rac mà phải liên kết với nhau xung quanh những vấn đề phải giải quyết. * Quan điểm “xuyén môn”, trong đó chúng ta chủ yêu phát triển những kĩ năng ma HS có thẻ sử dụng trong tat cả các môn học, trong tất cả các tinh hudng, chăng hạn, nêu một giả thuyết, đọc các thông tin, thông báo thông tin, giải một bài toán, v.
Những kĩ năng này chúng ta sẽ gọi là những kĩ năng xuyên môn. Có thê lĩnh hội được những kĩ năng này trong từng môn học hoặc nhân dip có những hoạt động chung cho nhiều môn học. Hiện nay, van dé cần hay không can tích hợp các môn học khác nhau không đặt ra nữa. Chúng ta biết rằng câu trả lời là khang định: can phải tích hợp các môn học.
Những nhu cầu của xã hội chúng ta đòi hỏi chúng ta phái hướng tới một quan điềm liên môn và xuyên môn. (Hoàng Văn Vân, 1998, tr. 5§,59) Trong How to integrate the curriculum, Robin Fogarty (2009) đã thống kê các phân loại tích hợp theo 9 mô hình như sau: mô hình tế bảo, mô hình được kết nói, mô hình long ghép, mô hình tuần tự, mô hình chia sẻ, mô hình mạng, mô hình xâu chuỗi, mô hình tích hợp, mô hình đắm chìm. CTNV 2006 xác định có hai hướng tích hợp chủ yếu: tích hợp chiều ngang và tích hợp chiều đọc.
, xà ` ‹ £ a: af * ae ae ` Tích hợp theo chiêu ngang: là gắn ket nội dung day kiên thức với nội dung rèn kỳ năng, nội dung của các phan Tiếng Viet, Lam văn với nội dung của phan Van học ” (BGD&DT, 2006, tr. Tích hợp theo chiêu đọc: /a thiết ke những don vị kiên thức, kĩ nắng học sau bao ham những kien thức và kĩ năng đã học trước nhưng ở mức cao hơn và sâu hơn theo nguyên tắc dong tâm và phát triển ” (BGD&ĐT, 2006, tr. Trong CTNV 2018, tích hợp được dé cập trong van đề dạy học tiếng Việt: “Kién (hức tiếng Liệt và văn học được tích hợp trong quá trình dạy học đọc, viết, nói và nghe. Các ngữ liệu được lựa chọn và sắp xếp phù hợp với khả năng tiếp nhận của HS ở mỗi cấp hoc.
Mue tiêu của giai đoạn nay là giúp HS sử dụng tiếng Việt thành thạo để giao tiệp hiệu qua trong cuộc sống va hoe tập tốt các môn học, hoạt động giáo dục khác; hình thành và phát triển NL văn hoc, một biểu hiện của NL thấm mĩ; đông thời bồi dưỡng tư tưởng, tình cam dé HS phát triển về tâm hôn, nhân cach. Từ các lý thuyết trên cùng tình hình thực tế giáo dục tại Việt Nam, ta có the phân loại đưới bốn hình thức tích hợp sau day: Tích hợp nội môn: nghĩa là nội dung kiến thức thuộc cùng môn học được thiết kế day kết hợp theo những chủ đẻ, chương, bai cụ thé. Tích hợp đa môn: các môn học vẫn đạy riêng biệt. nhưng có những liên kết có chủ đích giữa các môn học bởi các chủ dé hay van đề chung.
Tich hợp liên môn: các môn học có sự liên hợp với nhau và giữa chúng có những H x * PS a 28% sae £ Ầ Dd as: ssa , xà + van dé, chủ đê chung, ma việc giải quyét van đề đòi hỏi vận dụng các kiên thức của nhiều môn học khác nhau. Tích hợp xuyên môn: Bắt đầu giải quyết các van đề xuất phát từ cuộc sống trải nghiệm của HS tương ứng với môn học, từ đó xây dựng một môn học mới khác với môn học truyền thông.3 Tích hợp trong môn Ngữ văn Dựa vào phạm vi lớp học và quá trình nghiên cứu, việc day học tích hợp trong môn Ngữ văn được triển khai trên hai van đề: tích hợp nội môn và tích hợp liên môn. Đối với CTNV 2006, vẫn dé tích hợp nội môn - sự tích hợp nội môn trong môn Ngữ văn - xuất phát từ mỗi quan hệ giữa kiến thức và kĩ năng của hai lĩnh vực văn học và ngôn ngữ. Đối với môn Ngữ văn, trước đó từng có ba cudn sách riêng biệt cho Văn học, Tiếng Việt, Tập làm văn, nhưng hiện nay các lĩnh vực kiến thức và kĩ năng có liên quan được tích hợp trong một cudn sách, thậm chí trong cùng một BH.
Đồng thời, ta ghi nhận việc tích hợp nội môn trong việc sử dụng VB đọc hiéu hay phần Lam văn làm ngữ liệu khai thác dạy học Tiếng Việt. Tuy nhiên, dù việc tích hợp nội môn được xem lả bước tiền của CT và SGK hiện hành nhưng vẫn còn nhiều hạn chế. Bên cạnh đó, CT và SGK hiện hành vẫn chưa được xây dựng theo định hướng phát triển NL, do đó ma việc tích hợp nội môn trong CT hiện hanh còn đơn gián va chưa cụ thẻ. Cùng với quá trình tích hợp nội môn, bản thân môn Ngữ văn cũng phải tham gia vào quá trình tích hợp liên môn.
Tuy nhiên, với đặc thù môn Ngữ văn việc tích hợp liên môn là điều không đơn giản vì rất khó tìm ra mỗi liên thông với nhau ở từng cấp học. lớp học giữa kiến chuyên môn thuộc môn nay với môn khác, đặc biệt là việc tham chiều với các môn học thuộc tự nhiên. Nhung thực tế, ta nhận thay một số VB có kha năng tích hợp liên môn với các môn học Khoa học Xã hội như Lịch sử, Địa lí, Giáo dục công đân.Nếu đối sánh với môn Lịch sử, Địa li để xác định những bài đọc VB ít nhiều có liên quan đến nội dung, sự hỗ trợ từ môn học khác. Tuy nhiên, có thể thay sự hiém hoi trong việc đặt van đẻ tích hợp liên môn trong CTNV 2006.
Tích hợp liên môn của hệ thông VB trong SGK Ngữ văn cũng như việc kết nỗi kiến thức giữa các môn học đã chưa được quan tâm đúng mức. Chúng ta cần hiểu được thực trạng này phân lớn xuất phát từ việc CTGDPT 2006 chưa xác định trục tích hợp xuyên suốt. Điều này cũng mở ra nhiều vấn đẻ tích hợp liên môn mà CT2018 cần quan tâm và giải quyết. Đối với CTNV 2018, “theo mô hình giáo dục phát triển NL, ngay trong quả trình giáo dục, HS can giải quyết những nhiệm vụ cụ thể gan với đời song thực mà kiến thức, kĩ năng của mỗi môn học truyền thông không thé đáp ứng được.
Vi vậy, tích hợp là một phan tat yêu của mô hình giáo duc nay. Dé đạt được một CT phát triên NL người học, đảm bảo cấu trúc của CT mới phải được xây dựng dựa trên các trụ cột chính tương ứng với các NL giao tiếp: đọc, viết, nói và nghe. Đầu tiên, về thiết kế hệ thống BH, HS được học các loại VB và dé tài khác nhau, theo cách đó, HS có nhiều cơ hội vận dụng hiệu quả kiến thức, kĩ năng đọc hiệu vào hoạt động viết, nói và nghe. Thứ hai, số lượng BH đã giảm để tạo điều kiện cho HS có cơ hội rèn day đủ các NL giao tiếp và kĩ năng trong cùng một BH.
Thứ ba, tỉ lệ bài đành cho các kiểu loại VB, số VB nghị luận và VB thông tin đã được tăng cường đưa vào SGK, thông qua các kiêu VB đó đã giúp các em rèn ki năng phân tích từ ngữ, qua đó phát triển NL viết. Thứ tư, phân bồ số tiết phù hợp cho các kĩ năng trong mỗi bai, trong một BH phải có đây đủ các hoạt động day học doc, viết, nói và nghe. Các hoạt động tích hợp với nhau bằng cách: những gì đã đọc sẽ làm cơ sở cho viết, những gì đã đọc và viết sẽ làm cơ sở cho nói và nghe.