Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Khóa luận tốt nghiệp "Xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử phát triển năng lực học sinh THPT trong dạy học các chủ đề Lịch sử Việt Nam (Lịch sử lớp 11)" của tác giả Bùi Hoàng Kim Loan (ngành Sư phạm Lịch sử, chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử, Trường Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh, thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của ThS. Nhữ Thị Phương Lan vào tháng 4 năm 2024) được thực hiện trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục phổ thông.
Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và Chương trình môn Lịch sử điều chỉnh theo Thông tư số 13/2022/TT-BGDĐT của Bộ Giáo dục và Đào tạo đặt trọng tâm vào việc chuyển từ trang bị kiến thức rời rạc sang phát triển phẩm chất, năng lực người học; lấy học sinh làm trung tâm và chú trọng "học qua hành". Trong thực tế dạy học Lịch sử ở trường THPT, việc sử dụng câu hỏi và bài tập chủ yếu vẫn dừng lại ở mức độ kiểm tra khả năng ghi nhớ và tái hiện kiến thức, chưa phát huy tối đa giá trị phát triển năng lực nhận thức và thực hành lịch sử. Đồng thời, các công trình nghiên cứu hệ thống câu hỏi, bài tập theo các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 của chương trình mới còn hạn chế.
Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài bao gồm:
- Làm sáng tỏ cơ sở lí luận về năng lực, năng lực lịch sử và việc xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử định hướng phát triển năng lực cho học sinh THPT.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc biên soạn và sử dụng câu hỏi, bài tập trong dạy học Lịch sử tại các trường THPT.
- Xác định quy trình, nguyên tắc và tiến hành biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập cho các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại trường THPT nhằm kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của hệ thống câu hỏi, bài tập đã xây dựng.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Quá trình xây dựng và sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập môn Lịch sử nhằm phát triển năng lực cho học sinh THPT trong dạy học các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11.
- Phạm vi không gian: Khảo sát thực trạng tại các trường THPT trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An; thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Tạ Quang Bửu (TP. Hồ Chí Minh).
- Phạm vi thời gian và nội dung: Nghiên cứu thực hiện theo Chương trình môn Lịch sử năm 2022. Phạm vi kiến thức tập trung vào các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 gồm: Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945); Một số cuộc cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam (trước năm 1858); và Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông (từ thời kỳ trung đại đến hiện đại).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu
Khung lý thuyết và các khái niệm cốt lõi
Khóa luận dựa trên quan điểm giáo dục định hướng năng lực của Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và các văn bản chỉ đạo chuyên môn của Bộ Giáo dục và Đào tạo (Thông tư 32/2018/TT-BGDĐT và Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT). Cấu trúc năng lực được xác định gồm các thành tố: kiến thức, kĩ năng - kĩ xảo, thái độ và khả năng ứng phó linh hoạt trong bối cảnh thực tiễn.
Đối với môn Lịch sử, năng lực đặc thù của bộ môn bao gồm 3 thành phần chính:
- Tìm hiểu lịch sử: Nhận diện, khai thác và sử dụng tư liệu lịch sử; tái hiện, trình bày diễn trình sự kiện, nhân vật, quá trình lịch sử trong không gian và thời gian cụ thể.
- Nhận thức và tư duy lịch sử: Giải thích nguồn gốc, sự vận động, mối quan hệ nhân quả; so sánh sự tương đồng, khác biệt; giải thích sự tiếp nối và biến đổi lịch sử theo trục lịch đại và đồng đại; xem xét, đánh giá sự kiện từ nhiều chiều hướng.
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học: Rút ra bài học lịch sử, giải thích các vấn đề thực tiễn, phát triển tư duy sáng tạo và hình thành năng lực tự học lịch sử suốt đời.
Quy trình hình thành và phát triển năng lực cho học sinh gồm 7 bước: (1) Tiếp nhận kiến thức, thông tin; (2) Xử lí kiến thức, thông tin; (3) Áp dụng/vận dụng kiến thức; (4) Thể hiện thái độ qua hành động cụ thể; (5) Kết hợp bốn nội dung trên để hình thành năng lực; (6) Thể hiện tính trách nhiệm; (7) Kết hợp kinh nghiệm để hình thành năng lực nghề nghiệp.
Về công cụ sư phạm, đề tài xác định:
- Câu hỏi: Là dạng câu nêu vấn đề cần giải đáp, triển khai theo quy trình 6 bước (Xác định mục tiêu/soạn câu hỏi -> Đối chiếu mức độ với yêu cầu cần đạt -> Lựa chọn ngôn ngữ diễn đạt -> Khuyến khích học sinh trả lời -> Duy trì tiến trình hỏi - đáp bằng câu hỏi bổ trợ -> Đánh giá và thu thập phản hồi).
- Bài tập lịch sử: Gồm phần dữ liệu và phần yêu cầu, đòi hỏi học sinh huy động kiến thức đã biết hoặc tạo ra cách giải quyết mới. Quy trình sử dụng bài tập gồm 6 bước từ thiết kế, đặt vấn đề, gợi ý thảo luận, hướng dẫn trả lời, đánh giá chéo đến thu thập thông tin phản hồi.
Phương pháp nghiên cứu
Tác giả phối hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học giáo dục:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: Sưu tầm, phân tích và tổng hợp các công trình lí luận dạy học, văn kiện chương trình và sách giáo khoa để xây dựng khung lí thuyết.
- Phương pháp lịch sử và logic: Trình bày và phân tích các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian (cổ đại - trung đại - cận đại - hiện đại) kết hợp logic nhận thức để xây dựng hệ thống câu hỏi có tính kế thừa và phát triển tư duy.
- Phương pháp điều tra bằng bảng hỏi (khảo sát thực tiễn): Sử dụng Google Form và phiếu khảo sát trực tiếp đối với giáo viên và học sinh THPT nhằm thu thập dữ liệu định lượng và định tính về thực trạng dạy học.
- Phương pháp thực nghiệm sư phạm: Tổ chức dạy học thực nghiệm có đối chứng tại trường THPT để kiểm định tính khả thi và hiệu quả của hệ thống câu hỏi, bài tập.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc phát triển năng lực lịch sử cho học sinh THPT qua xây dựng hệ thống câu hỏi và bài tập trong dạy học Lịch sử
Chương 1 hệ thống hóa các vấn đề lí luận về năng lực, vai trò của câu hỏi và bài tập trong dạy học lịch sử; đồng thời công bố kết quả điều tra thực trạng tại Thành phố Hồ Chí Minh và tỉnh Long An.
Tác giả phân loại câu hỏi theo 5 tiêu chí:
- Theo vị trí trong quá trình dạy học: Câu hỏi gợi mở, câu hỏi củng cố, câu hỏi tổng kết, câu hỏi kiểm tra.
- Theo mục tiêu bài học: Khai thác kiến thức (cùng xây dựng bài, thảo luận nhóm, khám phá), kiểm tra kiến thức/kĩ năng, thu hút sự chú ý.
- Theo cấp độ nhận thức Bloom: Biết, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo.
- Theo nội dung môn học: Nêu sự phát sinh/phát triển; nêu đặc trưng/bản chất; nêu quan hệ nhân quả; sử dụng kiến thức đã học để hiểu sự kiện mới; câu hỏi thực hành.
- Theo phạm vi câu trả lời: Câu hỏi đóng và câu hỏi mở.
Đối với bài tập lịch sử, tác giả phân loại theo trắc nghiệm khách quan (5 dạng: nhiều lựa chọn, điền khuyết, ghép nối, đúng-sai, trắc nghiệm theo ngữ cảnh) và tự luận (theo chức năng, phạm vi trả lời, nội dung lịch sử).
Kết quả khảo sát thực trạng được thực hiện trên mẫu gồm 11 giáo viên Lịch sử (63,6% có thâm niên trên 5 năm tại các trường THPT: Tạ Quang Bửu, Ngô Gia Tự, Chuyên Trần Đại Nghĩa, Hàn Thuyên, Lương Văn Can, Năng khiếu TDTT Nguyễn Thị Định, An Mỹ, Dương Văn Dương tại TP.HCM và THPT Nguyễn Đình Chiểu tại Long An) và 91 học sinh lớp 11:
| Chỉ số khảo sát |
Dữ liệu ghi nhận từ giáo viên |
Đánh giá / Phản hồi từ học sinh |
| Ý nghĩa của câu hỏi, bài tập |
90,9% đồng ý giúp nhận biết tiến trình, so sánh và rút ra bài học lịch sử; 54,5% đồng ý giúp nhận biết khuynh hướng phát triển. |
Giúp hiểu rõ kiến thức, rèn tính tự chủ, tự học và phát triển tư duy. |
| Mức độ sử dụng theo hoạt động |
Câu hỏi được dùng thường xuyên ở khởi động và luyện tập; bài tập tập trung chủ yếu ở luyện tập, ít dùng ở khởi động và hình thành kiến thức mới. |
Thường gặp 3 hình thức: trắc nghiệm, tự luận, vấn đáp. |
| Đánh giá thành phần năng lực |
- Đánh giá Tìm hiểu lịch sử: 50% - 75% mức độ sử dụng. - Đánh giá Nhận thức và tư duy: 25% - 75% (câu hỏi) và 25% - 50% (bài tập). - Đánh giá Vận dụng: Đa phần dưới 25%. |
Học sinh ít được thực hiện các bài tập vận dụng thực tiễn hoặc dự án học tập. |
| Mức độ tham gia của học sinh |
Tham gia trả lời câu hỏi: 50% - 75% học sinh; tham gia giải bài tập: 25% - 75% học sinh. |
Gặp khó khăn do câu hỏi/bài tập đôi khi quá khó, chưa tạo hứng thú, thời gian làm bài ngắn. |
| Khó khăn chủ yếu |
Quỹ thời gian tiết học hạn chế; thiếu tài liệu; mất nhiều thời gian biên soạn câu hỏi phân hóa; cơ sở vật chất chưa đồng bộ. |
Khối lượng kiến thức nhiều, phương pháp kiểm tra còn nặng tính ghi nhớ. |
Chương 2: Biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập lịch sử trong dạy học các chủ đề Lịch sử Việt Nam theo Chương trình Lịch sử 2022
Chương 2 trình bày vị trí chương trình, yêu cầu cần đạt và quy trình biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập phục vụ dạy học các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11.
Quy trình biên soạn gồm các bước:
- Nghiên cứu chuẩn kiến thức, kĩ năng và yêu cầu cần đạt của chủ đề theo Chương trình Lịch sử 2022.
- Xác định các thành phần năng lực lịch sử cần hình thành ở từng đơn vị bài học.
- Lựa chọn dạng câu hỏi, bài tập (trắc nghiệm, tự luận, bài tập nhận thức, bài tập tình huống, dự án học tập) tương ứng với từng cấp độ nhận thức.
- Thiết lập nguồn sử liệu, tư liệu trích dẫn, hình ảnh hoặc bản đồ đi kèm phần dữ liệu của bài tập.
- Biên soạn nội dung câu hỏi, bài tập và xây dựng đáp án/hướng dẫn đánh giá chi tiết.
Tác giả xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập bám sát 3 chủ đề trọng tâm:
- Chủ đề 1: Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945): Xây dựng các câu hỏi gợi mở, câu hỏi phân tích về nguyên nhân thắng lợi, nghệ thuật quân sự và bài học kinh nghiệm của các cuộc kháng chiến tiêu biểu (chống Tống, Mông - Nguyên, Minh, Thanh), cùng bài tập nhận thức khai thác tư liệu trích dẫn (như văn bản Bình Ngô đại cáo của Nguyễn Trãi).
- Chủ đề 2: Một số cuộc cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam (trước năm 1858): Thiết kế hệ thống bài tập so sánh, đánh giá về bối cảnh, nội dung và kết quả của các cuộc cải cách Hồ Quý Ly (triều Hồ), Lê Thánh Tông (thế kỉ XV) và Minh Mạng (thế kỉ XIX); xây dựng bài tập vẽ sơ đồ tư duy hệ thống hóa bộ máy nhà nước và câu hỏi liên hệ thực tiễn về giá trị cải cách hành chính, luật pháp đối với hiện nay.
- Chủ đề 3: Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông: Xây dựng câu hỏi khám phá, bài tập thực hành (như thiết kế sổ tay sưu tầm tư liệu, chứng cứ lịch sử về quá trình xác lập và thực thi chủ quyền của Việt Nam đối với quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa qua các thời kì lịch sử).
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Chương 3 trình bày việc triển khai thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra tính khả thi và đo lường hiệu quả của hệ thống câu hỏi, bài tập đã thiết kế.
- Địa bàn và đối tượng thực nghiệm: Tiến hành tại Trường THPT Tạ Quang Bửu (Quận 8, TP. Hồ Chí Minh), với sự phối hợp chuyên môn của giáo viên bộ môn Cao Thị Hải. Đối tượng gồm học sinh khối lớp 11 được chia thành lớp thực nghiệm (sử dụng hệ thống câu hỏi, bài tập định hướng phát triển năng lực) và lớp đối chứng (sử dụng phương pháp dạy học thông thường).
- Nội dung thực nghiệm: Tổ chức các giáo án dạy học thực nghiệm thuộc các chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 đã biên soạn ở Chương 2.
- Quy trình đánh giá: Sử dụng các bài kiểm tra định kì, đánh giá thường xuyên (thông qua phiếu học tập, câu hỏi vấn đáp, bài tập nhận thức) và quan sát mức độ tích cực, chủ động tham gia hoạt động học tập của học sinh để đối sánh kết quả định lượng giữa hai nhóm.
Kết quả và đóng góp
Kết quả chính
- Khảo sát thực trạng: Chỉ ra được khoảng trống rõ nét trong dạy học lịch sử hiện nay khi năng lực Tìm hiểu lịch sử được chú trọng đánh giá (50% - 75% mức độ sử dụng của GV), trong khi năng lực Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học bị xem nhẹ (đa số GV sử dụng dưới 25%).
- Hệ thống hóa lí luận và công cụ: Xây dựng quy trình 6 bước biên soạn câu hỏi và 6 bước sử dụng bài tập lịch sử gắn liền với 7 bước hình thành năng lực người học và 3 thành phần năng lực lịch sử.
- Biên soạn tài liệu dạy học: Thiết kế được hệ thống câu hỏi và bài tập đa dạng về loại hình (trắc nghiệm nhiều lựa chọn, đúng-sai, điền khuyết, tự luận nhận thức, bài tập phân tích tư liệu, bài tập thực hành thiết kế sổ tay tư liệu) cho 3 chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 theo đúng Chương trình Lịch sử 2022.
- Kiểm chứng thực nghiệm: Thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Tạ Quang Bửu bước đầu chứng minh tính hiệu quả của hệ thống câu hỏi, bài tập trong việc gia tăng hứng thú học tập, nâng cao tỉ lệ tham gia hoạt động của học sinh và cải thiện khả năng tư duy phân tích, vận dụng kiến thức lịch sử.
Đóng góp của đề tài
- Về mặt lí luận: Cụ thể hóa các biểu hiện của 3 thành phần năng lực lịch sử theo Chương trình GDPT 2018 thành các dạng câu hỏi, bài tập có tiêu chí đo lường rõ ràng.
- Về mặt thực tiễn: Khóa luận là một trong những công trình nghiên cứu trực tiếp biên soạn hệ thống câu hỏi, bài tập bám sát Chương trình môn Lịch sử điều chỉnh năm 2022 (Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT), cung cấp hệ thống học liệu tham khảo trực tiếp cho giáo viên dạy Lịch sử lớp 11.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Hạn chế
- Về dung lượng mẫu khảo sát: Mẫu điều tra giáo viên còn ở mức hạn chế (11 giáo viên tại một số trường THPT ở TP.HCM và Long An), chưa phản ánh toàn diện thực trạng dạy học trên phạm vi rộng hơn.
- Về phạm vi nội dung: Hệ thống câu hỏi, bài tập mới chỉ tập trung vào 3 chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 (trước 1945 và Biển Đông), chưa bao quát toàn bộ các chủ đề Lịch sử thế giới, Lịch sử khu vực hoặc các chuyên đề học tập chuyên sâu của chương trình Lịch sử 11.
Hướng nghiên cứu tiếp
- Mở rộng quy mô khảo sát thực trạng và địa bàn thực nghiệm sư phạm sang nhiều trường THPT với điều kiện cơ sở vật chất và trình độ học sinh đa dạng hơn.
- Tiếp tục nghiên cứu, biên soạn hoàn chỉnh hệ thống câu hỏi, bài tập phát triển năng lực cho toàn bộ chương trình môn Lịch sử cấp THPT (bao gồm các chủ đề Lịch sử thế giới lớp 11, chương trình Lịch sử lớp 10 và lớp 12 theo Chương trình GDPT 2018).
Giá trị tham khảo
- Đối với giáo viên Lịch sử THPT: Cung cấp nguồn tư liệu câu hỏi gợi mở, câu hỏi củng cố, phiếu học tập và các dạng bài tập nhận thức/thực hành có thể sử dụng trực tiếp trong thiết kế kế hoạch bài dạy (giáo án) lớp 11 theo định hướng phát triển năng lực.
- Đối với sinh viên sư phạm ngành Lịch sử: Là tài liệu tham khảo cụ thể về phương pháp thiết kế công cụ kiểm tra đánh giá, kĩ thuật đặt câu hỏi và quy trình nghiên cứu khoa học giáo dục chuyên ngành Lí luận và Phương pháp dạy học Lịch sử.
- Phần đáng tham khảo nhất: Hệ thống câu hỏi, bài tập theo 3 chủ đề tại Chương 2 (kèm các đoạn ngữ liệu trích dẫn lịch sử và ma trận phân loại theo cấp độ nhận thức Bloom và thành phần năng lực).
Câu hỏi thường gặp
1. Năng lực lịch sử của học sinh THPT theo khóa luận gồm những thành phần nào?
Theo khóa luận (căn cứ Thông tư 13/2022/TT-BGDĐT), năng lực lịch sử gồm 3 thành phần:
- Tìm hiểu lịch sử (nhận diện, khai thác tư liệu, tái hiện diễn trình sự kiện, xác định không gian - thời gian).
- Nhận thức và tư duy lịch sử (giải thích nguồn gốc, mối quan hệ nhân quả, so sánh lịch đại - đồng đại, đánh giá sự kiện/nhân vật).
- Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học (rút ra bài học lịch sử, liên hệ giải thích thực tiễn, tự học lịch sử suốt đời).
2. Thực trạng đánh giá năng lực vận dụng kiến thức, kĩ năng qua khảo sát giáo viên như thế nào?
Kết quả khảo sát 11 giáo viên THPT cho thấy việc sử dụng câu hỏi và bài tập nhằm đánh giá thành phần năng lực Vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học đạt tỉ lệ rất thấp, đa phần giáo viên có mức độ sử dụng dưới 25%. Hoạt động kiểm tra, đánh giá hiện nay vẫn tập trung chủ yếu vào năng lực Tìm hiểu lịch sử (50% - 75%) và Nhận thức, tư duy lịch sử (25% - 75%).
3. Đề tài lựa chọn xây dựng hệ thống câu hỏi, bài tập cho những chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 nào?
Tác giả xây dựng câu hỏi và bài tập cho 3 chủ đề:
- Chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và chiến tranh giải phóng dân tộc trong lịch sử Việt Nam (trước Cách mạng tháng Tám năm 1945).
- Một số cuộc cải cách lớn trong lịch sử Việt Nam (trước năm 1858) (gồm cải cách Hồ Quý Ly, Lê Thánh Tông, Minh Mạng).
- Lịch sử bảo vệ chủ quyền, các quyền và lợi ích hợp pháp của Việt Nam ở Biển Đông (từ trung đại đến hiện đại).
4. Khảo sát thực trạng trong đề tài được tiến hành với quy mô và đối tượng nào?
Khảo sát được thực hiện trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh và tỉnh Long An, gồm:
- Giáo viên: 11 giáo viên Lịch sử (khảo sát qua Google Form; 63,6% có trên 5 năm kinh nghiệm) tại 9 trường THPT (Tạ Quang Bửu, Ngô Gia Tự, Chuyên Trần Đại Nghĩa, Hàn Thuyên, Nguyễn Đình Chiểu - Long An, Lương Văn Can, Năng khiếu TDTT Nguyễn Thị Định, An Mỹ, Dương Văn Dương).
- Học sinh: 91 học sinh lớp 11 (khảo sát bằng phiếu giấy).
5. Khóa luận phân loại câu hỏi dạy học theo những nhóm tiêu chí nào?
Tác giả phân loại câu hỏi theo 5 nhóm tiêu chí:
- Theo vị trí trong quá trình dạy học (gợi mở, củng cố, tổng kết, kiểm tra).
- Theo mục tiêu bài học (khai thác kiến thức, kiểm tra kiến thức/kĩ năng, thu hút sự chú ý).
- Theo 6 cấp độ nhận thức của thang Bloom (biết, hiểu, vận dụng, phân tích, đánh giá, sáng tạo).
- Theo nội dung môn Lịch sử (diễn biến sự kiện, đặc trưng bản chất, quan hệ nhân quả, so sánh/vận dụng kiến thức cũ, bài tập thực hành).
- Theo phạm vi câu trả lời (câu hỏi đóng, câu hỏi mở).
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Bùi Hoàng Kim Loan đã giải quyết trọn vẹn nhiệm vụ nghiên cứu lí luận và thực tiễn về việc phát triển năng lực học sinh THPT thông qua hệ thống câu hỏi, bài tập Lịch sử. Đề tài đã phản ánh chân thực thực trạng dạy học thông qua số liệu khảo sát tại TP. Hồ Chí Minh và Long An, chỉ ra sự thiếu hụt trong khâu rèn luyện năng lực vận dụng cho học sinh. Trên cơ sở đó, tác giả đã biên soạn thành công hệ thống câu hỏi, bài tập phân hóa theo chuẩn Chương trình Lịch sử 2022 cho 3 chủ đề Lịch sử Việt Nam lớp 11 và kiểm chứng hiệu quả qua thực nghiệm sư phạm tại Trường THPT Tạ Quang Bửu.