Mở đầu bài “Tra đài và cách uống trả Việt", tiến sĩ Nguyễn Nhà đã giới thiệu cho mọi người biết về trà đài, một không gian thưởng trà theo lỗi kiến trúc ngoài trời của người Việt. Còn phần sau của bài viết, ông tập trung vao giới thiệu các loại trả ma người Việt hay uống như trả mạn, trả ướp hương, trà Tau. Cuốn sách “Khoa học văn hóa tra thế giới & Việt Nam” [3] của pho giáo sư Đỗ Ngọc Quỹ và thạc sĩ Đỗ Thị Ngọc Oanh là cuốn sách đầu tiên của Việt Nam viết khá day đủ vẻ lịch sử hình thành và phát triển trả: tục uống trả trên the giới gồm cả Việt Nam và Nhật Bản. Tác giả còn tập trung nêu lên bản sắc va giá trị văn hóa Trà Việt cẳn phải bảo tồn, nâng cao; những tinh hoa của văn hóa trà thé giới cân được học tập va phát triển.
Nội dung cuốn “Tra kinh” [18] của Vũ Thế Ngọc viết cụ thể vẻ nguồn uốc va lich sử phát triển cây trả, các tác phẩm nổi tiếng vẻ trả (Trà kinh cua Lục Vũ. Trả ca của Lô Đồng, Đại quan trả luận của Tống Huy Tông. ): giới thiệu các danh trà, danh địa và các loại tra trên thé giới. Tác giả còn chủ ý viet tí mí về các nguồn nước tốt dé pha trà, trà cụ qua các thời, giới thiệu vẻ các SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Bich GVHD: TS.
Trịnh Tiên Thuận loại trà ở Việt Nam và biêu hiện lòng tự hào khi chứng minh Việt Nam là quê huơng của cây trà. Ở chương cuối có phan lặp lại ve cách chọn nguồn nước pha tra va có thêm chỉ dẫn cách thử trà, cách pha trà, cách uống và lợi hại của trả với sức khỏe. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Khóa luận được thực hiện dựa trên hai đối tượng chính là Trà đạo Nhật Ban và Trả phong Việt Nam. Song nội dung dé tải cũng chỉ dừng lại trong phạm vi những nội dung căn bản của một nền văn hóa tra bất kì như là nguồn gốc hình thành, quá trình phát triển, cung cách thưởng trà.
trong suốt khoảng thời gian từ khi hai nền văn hóa trà này manh nha hình thành cho đến ngay nay. Còn phạm vi không gian là một số trà quán tại khu vực thành pho Hồ Chí Minh. Phương pháp nghiên cứu Phương pháp tham khảo tài liệu: Khóa luận được thực hiện dựa trên việc sưu tam, nghiên cứu nguon tài liệu từ sách, báo, tạp chi, mạng internet và bài giảng của câu lạc bộ Trà Việt. Phương pháp quan sát: Việc tham dự budi tiệc trà do câu lạc bộ Trà Đạo Urasenke Sài Gòn tô chức và tham gia khóa học Tra nô tại câu lạc bộ Tra Việt cùng với việc xem các đoạn phim về Trà Dao đã giúp tôi hiểu rõ hơn về văn hóa trà Nhật — Việt.
Phương pháp lịch sử: Giúp nội dung khóa luận được trinh bảy một cách có hệ thống, dé theo đði theo trình tự thời gian với những sự kiện cụ thẻ. Phương pháp logic: Giúp phân tích, liên kết các dữ kiện, từ đó có thé đưa ra một cái nhìn tông thé về van dé đang nghiên cứu. Phương pháp hệ thong: Khóa luận sử dụng phương pháp hệ thong dé xem xét mối quan hệ giữa các thời kỳ phát triển khác nhau của hai nên văn hỏa tra. SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Bích GVHD: TS, Trịnh Tiên Thuận CHUONG 1.
GIỚI THIỆU CHUNG 1. Lich sử ding trà Trong quá trình dau tranh sinh tồn, người tiền sử đã vô tình nhai phải lá chẻ tươi trực tiếp từ cây chè. Lá chè tươi có tác dụng giải độc và kích thích thần kinh làm cho đầu 6c họ hưng phan. Đó là nguồn gốc dẫn đến tục ăn lá chẻ tươi dé chữa bệnh." Do cây chè sinh trưởng theo mùa, việc hai lá che từ cây chẻ mọc hoang nơi rừng núi rậm rạp rất khó khăn cộng thêm việc lá chè tươi không thể bảo quản được lâu nên người ta nghĩ tới việc đem chè phơi khô dé dành khi cân.
Dây cũng là phương pháp chế biến chè nguyên thủy. Khi văn minh nhân loại tiền sang giai đoạn mới: Thực pham từ ăn song thành ăn chín, lả chè tươi khó nhai nuốt qua cô đã được đun lên rồi uống. Ngày nay, tục uống nước chẻ tươi vẫn còn ở dân tộc Kinh, Việt Nam. Tiếp theo việc dun nấu lá chè tươi là dun nấu trà bánh đời nhà Đường, quay trà bột đời nhà Tống, hãm tra sợi rời ở đời nha Minh, Thanh - Trung Hoa.
Sang thé ky XX, trà hòa tan xuất hiện với các loại trả bac hà, trà vị hoa quả, trà dược thảo rồi đến trà thể lỏng như trà lon, trà chai hiện nay. Con đường lan truyền tập quán uống nước trà bắt đầu từ vùng nguyên sản cây chè ở Đông Nam châu Á sang châu Âu, châu Phi rồi mới sang châu Mỹ và châu Đại Dương. Phân lớn tập quán uống trà bắt rễ đầu tiên vào các tầng lớp vua chúa như mốt wong tra của thời đại, sau đó mdi phỏ biến ra các lớp thượng lưu như văn nhân, sĩ phu, thương gia giàu có, rồi cuối cùng mới phô cập tới người dân và quảng đại quần chúng. |3, 164| Hiện nay, các nước Au Mỹ chi dùng trà đen" còn A Đông dùng trà xanh và Ô long.
Bốn nên văn hóa trả lớn luôn được kế đến ở khu vực Chau A là Theo tải liệu Lưu Khâu Van va cộng tác viên, 1994 * Tra den: Tiếng Anh là black tea. Han ngữ gọi lá hồng trả. 10 SVTIHH: Nguyễn Thị Ngọc Bich GVHD: TS. Trịnh Tiền Thuận Tra đạo Nhật Bản (Chanoyu), Tra Sen Việt Nam, Kungfu Tra Trung Quốc và trả Panyaro của Triêu Tiên.
Trà đạo Nhật Bản dùng loại trà bột cổ xưa pha vào bát. Tra Đạo có những quy định rất chặt chẽ về cách pha, tra cụ, trà thất. Một từ dé miêu tả về Chanoyu đó là Đạo. Nghỉ thức trà đạo luôn hướng con người vào bồn giá trị là: Hòa - Kính - Thanh - Tịnh.
Còn Kungfu Tea dé cao nhất là Mỹ - Cái dep. Thao tác phải điêu luyện, phóng khoáng. Dụng cụ pha trà phức tạp, chỉ li ngược han với sự đơn giản, thô sơ của Chanoyu. Còn văn hóa Trà Việt với chữ Hòa làm gốc đã chọn hoa Sen làm biểu tượng cho mình.
Từ đây, Trà Sen trở thành nữ hoàng văn hóa trà Việt Nam sánh vai cùng các nên văn hóa tra nỗi tiếng trên thé giới Cuối cùng đó là Panyaro với triết lý rất đơn giản, cho phép ta được tự nhiên phóng khoáng trong cách pha va thưởng trà. Bởi thé, Panyaro phù hợp ở mọi nơi và với mọi lứa tuổi. Bắt nguồn từ lá chẻ tươi nuốt sống, cây trả và lá trả ở từng vùng miễn, khu vực khác nhau đã phát triển theo những biến đổi của lịch sử, đã lan rộng đến những vùng đất xa xôi theo hành trình của con người. Và rồi tại những nơi ấy, con người đã ngày ngày cải biến cách chế biến, thưởng thức trà cho phù hợp với sở thích và tinh thân của từng dân tộc.
Chính điều này đã làm nảy sinh những nền văn hỏa trà khác nhau tuy không tách rời nhưng vẫn có những nét đặc trưng riêng khó hòa lẫn. — Lịch sử phát triển trà thế giới Đầu tiên, chè được biết đến như một loại dược liệu ở Trung Hoa vao thời Thần Nông (trước công nguyên). “Bản thảo Thần Nông” viết vào thời kỷ trước công nguyên có ghi * Than Nông thưởng bách thảo, nhật khâu thất thập nhị độc, đắc trả nhi giải chỉ” được dịch là “Than Nông nếm hàng trăm thứ cỏ, gặp phải 72 loại cỏ độc, uống chè là giải độc được” (Vương Úc Phong và đồng tác giả, 1999). SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Bích GVHD: TS.
Trịnh Tiên Thuận Vảo năm 661, chè được lan truyền sang Triều Tiên với tục cúng trả dâng tổ tiên cho nhà vua Suro. Tiếp đó, chẻ đến Nhật Bản, gắn với sự kiện hoảng dé Shomu ban tiệc tra cho các nha sư của triều đình ngay tại cung điện. Đến năm 850, theo con đường tơ lụa, trà từ Trung Hoa đã đến với nước Nga và Ba Tư. Vào thời nhà Đường (618 - 907), trà ở vùng Tây Nam Trung Hoa đã sang đến An Độ theo con đường trả mã dao.
Đến thế kỷ 19, trà theo con đường gia vị trên biển lan sang châu Âu, châu Mỹ, châu Phi và châu Úc. Tóm lại, từ cái nôi Trung Hoa rộng lớn, trà đã theo ba con đường khác nhau lan ra khắp mọi nơi. Dừng chân ở mỗi nơi, trà lại có sự phát triển và biên đổi theo từng thời kỳ nhất định phù hợp với những điều kiện nhất định. Vậy khi trà đến Nhật Bản, trả đến Việt Nam, trà đã phát triển ra sao? 1.
Lich sử phát triển trà Nhật Ban Bắt đâu từ cây chè mọc hoang trong tự nhiên cho đến khi được thê giới biết đến như là nét văn hóa đặc sắc của xứ sở hoa anh đào, Trà đạo Nhật Bản đã trải qua biết bao thăng tram cùng với những biến động của xã hội Nhật. Con đường từ hình thành đến phát triển của chén trà xanh Nhật Bản có thể chia thành các giai đoạn sau: 1. Giai đoạn hình thành - Du nhập (từ thời đại Nara đến thời đại Heian): “Cây chè và tục uống trà thâm nhập vào Nhật Bản theo hai con đường: Đầu tiên là từ bán đảo Triều Tiên và sau đó trực tiếp từ nhà Đường (Trung Quốc) vào thé ky VIII. Vào thời Nara (710 — 794), các doan sứ giả Nhật tới triều Đường va khi về nước, họ mang theo ít trà bánh đề làm quả.
Trà chính thức “dat chân” tới kinh đô Nhật năm 729 cùng với sự kiện vua Shomu ban thưởng tiệc trả cho hơn một trăm nha sư của triều đình ngay tại cung điện. [13, 46] Vẻ sau, trả da được các nhà sư người Nhật mang về gieo trồng và sinh trưởng tươi tốt. Từ 12 SVTH: Nguyễn Thị Ngọc Bích GVHD: TS. Trịnh Tién Thuận đây, trả bắt đầu phố biến trong giới tang sư.
Các nhà sư trên con đường truyền bá đạo Phật Thiền Tông cũng đã phô biến tác phẩm “Khiét Trà Dưỡng Sinh Ký" với nội dung ghi lại mọi chuyện liên quan đến thú uống tra, đồng thời ca ngợi đặc tính dược liệu quý báu của trà. Thế là người Nhật đã đến với thú uống trả vì bị hap dẫn bởi được tinh và hương vị tra thơm ngon. Vì những lý do đó nên khi về tới hoàng cung, trà đã được Thiên Hoàng khuyến khích cho trong khắp mọi nơi. Bắt dau từ đây, cây trả dan lan rộng trên lãnh thô Nhật.