Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Hoạt động du lịch đóng vai trò là một trong những ngành kinh tế quan trọng, tuy nhiên sự phân bố hoạt động này thường diễn ra không đồng đều trong năm. Sự mất cân bằng giữa cung và cầu du lịch tạo nên tình trạng quá tải vào mùa cao điểm và thiếu hụt khách vào mùa thấp điểm, gây áp lực trực tiếp lên doanh thu của doanh nghiệp, việc làm của người lao động và hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tại điểm đến.
Tỉnh Thừa Thiên Huế là trung tâm du lịch lớn của khu vực miền Trung Việt Nam, sở hữu hệ thống tài nguyên phong phú nhưng chịu sự chi phối mạnh mẽ của tính thời vụ do yếu tố khí hậu và tập quán xã hội. Trong giai đoạn 2014 - 2019, tính thời vụ của tỉnh diễn biến tương đối ổn định theo chu kỳ thường niên. Tuy nhiên, giai đoạn 2020 - 2022, tác động của đại dịch Covid-19 đã làm đảo lộn nhu cầu, hành vi di chuyển của các thị trường khách và làm thay đổi cấu trúc thời gian các mùa du lịch. Đề tài khóa luận được thực hiện nhằm phân tích thực trạng biến động tính thời vụ giai đoạn 2014 - 2022, xác định các giai đoạn cao điểm mới và xây dựng các giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của tính thời vụ đối với địa phương.
Mục tiêu nghiên cứu của khóa luận là phân tích tính thời vụ du lịch của tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2014 - 2022, từ đó đề xuất một số giải pháp để hạn chế tính thời vụ du lịch của tỉnh trong tương lai. Để đạt được mục tiêu này, tác giả xác định 5 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:
- Tổng quan tài liệu về tính thời vụ trong du lịch và vận dụng vào địa bàn nghiên cứu.
- Đề xuất chỉ tiêu đánh giá tính thời vụ của du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phân tích tính thời vụ của hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2014 - 2022.
- Phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến tính thời vụ du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2014 - 2022.
- Đề xuất một số giải pháp để hạn chế tính thời vụ du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2014 - 2022.
Đối tượng và giới hạn nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu: Tính thời vụ của hoạt động du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, được phân tích trên cơ sở số lượt khách du lịch và doanh thu du lịch. Các chỉ tiêu đo lường chính bao gồm: số lượt khách, chỉ số thời vụ du lịch, tỉ số mùa vụ du lịch và hệ số Gini.
- Phạm vi không gian: Địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế.
- Phạm vi thời gian: Giai đoạn 2014 - 2022, được chia thành 3 thời kỳ: trước dịch Covid-19 (2014 - 2019), trong dịch Covid-19 (2020 - 2021) và sau dịch Covid-19 (năm 2022).
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận xây dựng hệ thống cơ sở lý thuyết dựa trên các khái niệm chuyên ngành và văn bản pháp luật hiện hành:
- Khái niệm du lịch, tài nguyên du lịch và khách du lịch: Trích dẫn Điều 3 (Chương I) và Điều 15 (Mục 1, Chương III) của Luật Du lịch Việt Nam năm 2017 (thông qua ngày 19/6/2017). Tài nguyên du lịch được phân định thành tài nguyên tự nhiên (địa hình, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái) và tài nguyên văn hóa (di tích lịch sử - văn hóa, kiến trúc, làng nghề, lễ hội, ẩm thực). Phân loại khách du lịch gồm khách nội địa và khách quốc tế.
- Khái niệm tính thời vụ du lịch: Vận dụng định nghĩa của Hylleberg (1992) về sự di chuyển có hệ thống trong năm do thời tiết, lịch trình và các quyết định sản xuất - tiêu dùng; khái niệm trong giáo trình kinh tế du lịch của Nguyễn Văn Đính và Trần Thị Minh Hòa về sự dao động lặp đi lặp lại đối với cung và cầu của các nhân tố nhất định.
- Khung đo lường tính thời vụ:
- Phân tách chuỗi dữ liệu hàng tháng theo phương pháp DeLurgio (1998) gồm các thành phần: xu hướng (T), mùa (S), chu kỳ (C) và biến động không đều (I).
- Tỉ số thời vụ (Seasonality ratio) theo nghiên cứu của Yacoumis (1980): tính bằng tỉ số giữa lượng khách tháng cao nhất chia cho lượng khách trung bình hàng tháng.
- Chỉ báo tính thời vụ (Seasonality indicator) theo Koenig và Bischoff (2004): nghịch đảo của tỉ số thời vụ hoặc lấy 100 chia cho chỉ số thời vụ cao nhất.
- Hệ số Gini đo lường mức độ bất bình đẳng và tập trung theo mùa theo công thức của Lundtorp (2001), kết hợp luận điểm của Ünay (1997) và Fernández-Morales (2003). Giá trị tiệm cận 0 thể hiện sự phân bổ đồng đều, tiệm cận 1 thể hiện sự tập trung cao độ.
- Nghiên cứu tham khảo: Nghiên cứu quốc tế của Kurtuluş Karamustafa và Şevki Ulema (2010) về đo lường tính thời vụ qua so sánh các phương pháp khác nhau; nghiên cứu trong nước của Vũ Đình Quế (2007) về kinh tế du lịch và giải pháp giảm thiểu tính thời vụ tại thị xã Sầm Sơn.
Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng gồm hai nhóm phương pháp chính:
- Phương pháp thu thập tài liệu thứ cấp: Tập hợp các chuỗi số liệu thống kê đã qua tính toán về số lượt khách ghé thăm, khách lưu trú, doanh thu du lịch, số lao động và cơ sở lưu trú. Nguồn dữ liệu thứ cấp được khai thác từ Sở Du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế, Cơ sở dữ liệu du lịch của Cục Du lịch Việt Nam, Tổng cục Thống kê năm 2019 và số liệu so sánh quốc tế từ Bộ Văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ (The Turkish Ministry of Culture).
- Phương pháp phân tích - tổng hợp: Xử lý các dữ liệu thứ cấp thu thập được, phân tích cấu trúc tài nguyên và các khía cạnh lý thuyết, sau đó tổng hợp, liên kết các dữ kiện theo chuỗi thời gian 2014 - 2022 để làm rõ đặc trưng và quy luật biến động thời vụ trên địa bàn nghiên cứu.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn về tính thời vụ du lịch
Chương 1 hệ thống hóa cơ sở lý luận về tính thời vụ du lịch, chỉ rõ các đặc điểm chung của hiện tượng thời vụ trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân tích 5 nhóm nhân tố tác động hình thành tính thời vụ: khí hậu, thời gian rỗi của các nhóm dân cư, cơ sở vật chất - kỹ thuật và khả năng đón tiếp, phong tục tập quán, điều kiện tài nguyên du lịch. Đồng thời, chương này chỉ ra hai mặt tác động của tính thời vụ:
- Tác động tích cực: Tập trung nguồn lực bảo vệ môi trường theo thời điểm, tối ưu hóa lợi nhuận mùa cao điểm để bù đắp mùa thấp điểm, tạo cơ hội phục hồi tài nguyên và bảo dưỡng hạ tầng kỹ thuật trong giai đoạn vắng khách.
- Tác động tiêu cực: Làm giảm chất lượng dịch vụ do quá tải, áp lực tuyển dụng và đào tạo nhân sự ngắn hạn mùa cao điểm; gây thất nghiệp mùa vụ, giảm sút doanh thu và lãng phí công suất buồng phòng mùa thấp điểm.
Về cơ sở thực tiễn, tác giả tổng hợp kinh nghiệm xử lý tính thời vụ trên thế giới, tiêu biểu như giải pháp phân chia so le lịch nghỉ học đường tại các bang của Đức và Áo để giảm áp lực dồn ứ hạ tầng. Đối với tác động của đại dịch Covid-19, dữ liệu từ Thổ Nhĩ Kỳ giai đoạn 2019 - 2022 được dùng làm dẫn chứng: lượng khách đạt trên 51 triệu năm 2019, giảm còn hơn 30 triệu năm 2021 và hồi phục vào năm 2022 với hơn 31 triệu lượt khách tập trung vào khung thời gian kéo dài từ tháng 6 đến tháng 10. Tại Việt Nam, tác giả so sánh sự khác biệt về tính thời vụ giữa Đà Nẵng (phụ thuộc vào du lịch biển, cao điểm hè tháng 5 - 7, thấp điểm mùa mưa bão tháng 9 - 11) và Hà Nội (trọng tâm là du lịch văn hóa - tâm linh với 5.922 di tích và 1.206 lễ hội, tính thời vụ chịu chi phối chủ yếu bởi yếu tố xã hội như dịp Tết, lễ hội đầu năm và mùa thi đại học thay vì khí hậu).
Chương 2: Khái quát tỉnh Thừa Thiên - Huế và tài nguyên du lịch tỉnh
Chương này phác thảo toàn diện địa bàn nghiên cứu:
- Vị trí địa lý và hành chính: Tọa độ 16 - 16,8 độ vĩ Bắc, 107,8 - 108,2 độ kinh Đông; bờ biển dài 120 km; vùng nội thủy xác định theo đường nối điểm A11 (đảo Cồn Cỏ, Quảng Trị) đến điểm A10 (đảo Lý Sơn, Quảng Ngãi); có 81 km biên giới giáp Lào; nằm trên hành lang kinh tế Đông - Tây nối đường 9. Tỉnh có 9 đơn vị hành chính cấp huyện (1 thành phố Huế, 2 thị xã Hương Thủy và Hương Trà, 6 huyện: A Lưới, Nam Đông, Phong Điền, Phú Lộc, Phú Vang, Quảng Điền) với 141 đơn vị hành chính cấp xã (95 xã, 39 phường, 7 thị trấn).
- Lịch sử hình thành: Gắn liền với di chỉ khảo cổ Sa Huỳnh tại Cồn Ràng (Hương Trà, phát hiện năm 1987); mốc lịch sử năm 1558 khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa; năm 1687 chúa Nguyễn Phúc Thái dời phủ về làng Thụy Lôi đặt tên Phú Xuân; sự kiện ngày 23/8/1945 và lễ thoái vị của Vua Bảo Đại ngày 30/8/1945; ngày giải phóng 26/3/1975.
- Điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội:
- 4 dạng địa hình: núi trung bình (>25% diện tích), núi thấp và gò đồi (>65% diện tích đồi núi, chiếm 50% toàn tỉnh), đồng bằng duyên hải (16%), đầm phá và biển ven bờ.
- Khí hậu: Mùa khô (tháng 3 đến tháng 8, nhiệt độ đỉnh điểm đạt 47°C vào tháng 8/2018); mùa mưa bão lụt (tháng 8 đến tháng 2 năm sau, nhiệt độ trung bình 19,7°C, thấp nhất 8 - 9°C).
- Thủy văn: Hệ thống sông Hương dài 104 km, lưu vực 2.830 km² với 3 nhánh chính (sông Bồ, sông Hữu Trạch, sông Tả Trạch); hệ thống phá Tam Giang - Cầu Hai dài gần 70 km; cùng các sông Ô Lâu, sông Nong, sông Truồi, sông Bù Lu, sông A Sáp.
- Dân số năm 2019 đạt 1.128.620 người (thành thị chiếm 49,5%), mật độ 233 người/km²; gồm các dân tộc thiểu số bản địa Cơ Tu, Tà Ôi, Bru - Vân Kiều, Pa Kôh. Tăng trưởng kinh tế năm 2019 đạt 7,18%, khu vực dịch vụ tăng 7,39% (du lịch chiếm 30 - 40% giá trị tăng thêm của ngành); cơ cấu dịch vụ chiếm 48,40%; GRDP bình quân đầu người đạt 46,7 triệu đồng (tương đương 2.007 USD).
- Tiềm năng tài nguyên du lịch:
- Tự nhiên: Các núi Ngự Bình, Kim Phụng, Bàn Sơn, Ngọc Trản; vịnh Lăng Cô; Vườn quốc gia Bạch Mã, các khu bảo tồn Phong Điền, Hương Nguyên, Sao La; khu rừng ngập mặn Rú Chá (Hương Trà) với diện tích 4,5 ha trồng năm 2016.
- Văn hóa: Quần thể di tích Cố đô Huế (công nhận năm 1993), Mộc bản triều Nguyễn (2009), Châu bản triều Nguyễn (2014), Thơ văn trên kiến trúc cung đình Huế (2016); chùa Thiên Mụ; làng nghề bánh bèo Đức Bưu, bánh tráng Lựu Bảo, bún Ô Sa, nón lá Mỹ Lam; các lễ hội cung đình, lễ hội Điện Hòn Chén/Huệ Nam, hội vật Làng Sình; nghệ thuật ẩm thực với hơn 1.000 món ăn.
Chương 3: Tình hình hoạt động và tính thời vụ du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế giai đoạn 2014 - 2022
Chương 3 trình bày trọng tâm nghiên cứu định lượng của khóa luận:
-
Các nhân tố ảnh hưởng tại địa phương: Khí hậu chi phối lớn nhất khi tháng 9, 10, 11 thường xuyên có mưa bão khiến hoạt động du lịch gần như đình trệ; tháng 12 đến tháng 1 chịu ảnh hưởng gió mùa Đông Bắc gây mưa phùn, lạnh. Về thời gian rỗi, hình thành 2 đợt cao điểm: đợt 1 từ tháng 1 đến tháng 3 (Tết Nguyên đán và kỳ nghỉ đông của khách quốc tế); đợt 2 từ tháng 6 đến tháng 8 (nghỉ hè của học sinh, sinh viên). Về hạ tầng lưu trú, đến tháng 6/2021 tỉnh có 883 cơ sở với 225 khách sạn; trong đó có 7 cơ sở 5 sao, 13 cơ sở 4 sao, 6 cơ sở 3 sao, 14 cơ sở 2 sao và 4 cơ sở 1 sao; cảng Chân Mây có độ sâu 18 - 20 m tiếp nhận tàu biển quốc tế.
-
Biến động tính thời vụ qua ba giai đoạn:
- Giai đoạn 2014 - 2019 (trước dịch Covid-19): Lượng khách tăng trưởng liên tục từ 2,9 triệu lượt (năm 2014) lên 4,82 triệu lượt (năm 2019). Tháng cao điểm nhất thường rơi vào tháng 4 (năm 2014 đạt 330.600 lượt, chiếm 11,4% tổng lượng khách cả năm; năm 2015 tiếp tục ghi nhận đỉnh vào tháng 4) hoặc chuyển dịch sang tháng 6 và tháng 7 (tháng 6/2016 đạt 358.600 lượt; tháng 7/2017 đạt 390.100 lượt). Năm 2018 đón 4,32 triệu lượt khách, cao điểm tập trung tháng 3 - 4. Năm 2019 đạt đỉnh 4,82 triệu lượt, riêng khách tàu biển cập cảng Chân Mây tham quan Cố đô đạt trên 34.000 lượt (tính đến giữa tháng 9/2019). Tỉ số mùa vụ duy trì từ 0,10 đến 0,11. Hệ số Gini giai đoạn này dao động xấp xỉ 1, phản ánh tính thời vụ tập trung rõ nét nhưng ổn định qua các năm.
- Giai đoạn 2020 - 2021 (trong dịch Covid-19): Thị trường bị đứt gãy. Năm 2020, tổng lượt khách giảm còn 1,53 triệu (giảm hơn 2,9 triệu lượt so với năm 2019). Tháng 1/2020 đạt trên 400.000 lượt (tăng hơn 14.000 lượt so với cùng kỳ 2019), tháng 2 đạt hơn 280.000 lượt. Từ tháng 3/2020 bắt đầu suy giảm mạnh; tháng 4/2020 do áp dụng Chỉ thị số 16/CT-TTg ngày 01/04/2020, lượng khách giảm xuống mức 6.700 lượt (chủ yếu là khách kẹt lại địa phương). Tháng 7/2020 hồi phục ngắn hạn đạt hơn 113.000 lượt, nhưng tháng 8 giảm còn hơn 67.000 lượt. Tỉ số mùa vụ năm 2020 tăng vọt lên 0,15. Năm 2021, tổng lượt khách 6 tháng đầu năm đạt hơn 547.000 lượt, nhưng 6 tháng cuối năm giảm nghiêm trọng chỉ còn hơn 141.000 lượt. Hệ số Gini giai đoạn 2020 - 2021 vượt ngưỡng 1 do sự biến động bất thường giữa các tháng.
- Giai đoạn 2022 (sau dịch Covid-19): Sau khi mở cửa du lịch hoàn toàn từ ngày 15/03/2022, tổng lượt khách đạt 2,04 triệu lượt. Tháng 7 là tháng cao nhất với trên 279.000 lượt (chiếm hơn 13% tổng lượng khách). Điểm khác biệt căn bản là 4 tháng đầu năm không còn là cao điểm, lượng khách dồn vào 7 tháng cuối năm. Tỉ số mùa vụ năm 2022 giảm về 0,14; hệ số Gini giảm xuống khoảng 0,8, cho thấy sự chênh lệch mùa vụ có xu hướng thu hẹp so với thời kỳ dịch bệnh.
Bảng tổng hợp các chỉ tiêu thời vụ du lịch Thừa Thiên Huế qua các mốc điển hình (theo số liệu văn bản):
| Năm |
Tổng lượt khách (lượt) |
Tháng có lượng khách cao nhất |
Tỉ số mùa vụ |
Đặc điểm hệ số Gini |
| 2014 |
~2.900.000 |
Tháng 4 (330.600 lượt, chiếm 11,4%) |
0,11 |
Xấp xỉ gần bằng 1 |
| 2015 |
Đang tăng trưởng |
Tháng 4 |
0,11 |
Xấp xỉ gần bằng 1 |
| 2016 |
3.260.000 |
Tháng 6 (358.600 lượt) |
0,11 |
Xấp xỉ gần bằng 1 |
| 2017 |
3.790.000 |
Tháng 7 (390.100 lượt) |
0,10 |
Xấp xỉ gần bằng 1 |
| 2018 |
4.320.000 |
Tháng 3 - Tháng 4 |
0,11 |
Xấp xỉ gần bằng 1 |
| 2019 |
4.820.000 |
Tháng 3 - Tháng 4 và Tháng 7 |
0,10 |
Xấp xỉ gần bằng 1 |
| 2020 |
1.530.000 |
Tháng 1 (>400.000 lượt; tháng 4 còn 6.700) |
0,15 |
Vượt qua 1 |
| 2021 |
688.000 (tính gộp 2 kỳ) |
6 tháng đầu năm (547.000 lượt) |
Biến động |
Vượt qua 1 |
| 2022 |
2.040.000 |
Tháng 7 (>279.000 lượt, >13%) |
0,14 |
Giảm xuống khoảng 0,8 |
Chương 4: Giải pháp hạn chế tác động của tính thời vụ du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế
Tác giả đề xuất hệ thống 8 giải pháp nhằm giảm nhẹ áp lực tính thời vụ cho du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế:
- 4.1 Đẩy mạnh truyền thông phù hợp với các đối tượng khách tiềm năng: Ứng dụng mạng xã hội quảng bá hình ảnh thiên nhiên và chiều sâu di tích lịch sử tới các phân khúc khách mục tiêu.
- 4.2 Giá cả ưu đãi, khuyến mãi cho khách du lịch khi tham quan trái vụ: Áp dụng chính sách kích cầu, giảm giá dịch vụ buồng phòng và vé tham quan vào các tháng thấp điểm nhằm khuyến khích du khách trải nghiệm ngoài mùa cao điểm.
- 4.3 Đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, phát triển sản phẩm du lịch mới và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch truyền thống: Kết hợp khai thác du lịch sinh thái đầm phá (như rừng Rú Chá), du lịch làng nghề thủ công và ẩm thực bên cạnh sản phẩm tham quan di tích Cố đô.
- 4.4 Liên kết các tuyến du lịch với các tỉnh xung quanh tạo chương trình du lịch dài ngày: Mở rộng hợp tác liên vùng với Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Trị để hình thành chuỗi sản phẩm liên hoàn, điều hòa luồng khách.
- 4.5 Phát triển nhân lực du lịch theo hướng chuyên nghiệp: Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ cho lao động trong các tháng thấp điểm nhằm giữ chân nhân sự và hạn chế tình trạng thiếu hụt cục bộ mùa cao điểm.
- 4.6 Bảo dưỡng và nâng cấp chất lượng khách sạn du lịch: Tận dụng thời gian vắng khách mùa thấp điểm để bảo trì, sửa chữa cơ sở vật chất kỹ thuật và trang thiết bị lưu trú.
- 4.7 Huy động và sử dụng các nguồn vốn để phát triển kinh tế du lịch tỉnh Thừa Thiên - Huế: Khai thác hiệu quả các nguồn vốn đầu tư công và xã hội hóa để hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật, cảng biển và cơ sở dịch vụ.
- 4.8 Tăng cường hiệu quả quản lý nhà nước về du lịch: Triển khai các quy hoạch ngành (tiêu biểu như Quy hoạch tổng thể phát triển Khu du lịch quốc gia Lăng Cô - Cảnh Dương đến năm 2025, tầm nhìn 2030) và tăng cường phối hợp liên ngành.
Kết quả và đóng góp
Khóa luận đạt được các kết quả định lượng cụ thể:
- Lượng hóa chi tiết tính thời vụ du lịch tỉnh Thừa Thiên Huế giai đoạn 2014 - 2022 qua chuỗi số liệu thực tế: chỉ rõ biên độ dao động của tỉ số mùa vụ (trong khoảng 0,10 - 0,11 ở giai đoạn ổn định 2014 - 2019, tăng vọt lên 0,15 năm 2020 và đạt 0,14 năm 2022).
- Xác định sự thay đổi của hệ số Gini: từ mức xấp xỉ 1 (giai đoạn 2014 - 2019) tăng vượt ngưỡng 1 do đứt gãy dòng khách trong thời kỳ dịch bệnh (2020 - 2021), sau đó giảm xuống mức xấp xỉ 0,8 vào năm 2022 khi hoạt động mở cửa du lịch được tái thiết lập từ ngày 15/03/2022.
- Nhận diện quy luật dịch chuyển mùa vụ: Chỉ ra rằng trước năm 2020, tỉnh tồn tại 2 mùa cao điểm rõ rệt (tháng 1 - 4 và tháng 6 - 8), thấp điểm sâu từ tháng 9 đến tháng 11 do mưa bão. Sau dịch bệnh (năm 2022), chu kỳ mùa vụ dịch chuyển mạnh sang 7 tháng cuối năm, trong khi các tháng đầu năm chưa đạt mức phục hồi tương ứng.
- Đề xuất hệ thống 8 giải pháp có tính hệ thống bao quát các khía cạnh: truyền thông, chính sách giá trái vụ, sản phẩm mới, liên kết tuyến vùng, nhân lực, cơ sở lưu trú, vốn đầu tư và quản lý nhà nước.
- Đóng góp so với các nghiên cứu trước: Khóa luận cập nhật chuỗi số liệu phân tích đến năm 2022, bổ sung minh chứng thực nghiệm về tác động của cú sốc y tế toàn cầu (Covid-19) làm biến dạng chu kỳ thời vụ du lịch tại một trung tâm văn hóa - di sản miền Trung, so với các nghiên cứu giai đoạn trước mới chỉ dừng lại ở các yếu tố biến động tự nhiên hoặc kinh tế thuần túy.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
Khóa luận bộc lộ một số hạn chế gắn liền với phạm vi và nguồn dữ liệu:
- Hạn chế về dữ liệu lưu trú: Do dữ liệu thống kê thời gian lưu trú thực tế của du khách theo ngày không có sẵn đầy đủ, tác giả phải sử dụng số lượt khách đăng ký tại các cơ sở lưu trú để đại diện tính toán các chỉ báo mùa vụ theo lưu ý phương pháp luận của Koenig và Bischoff (2004).
- Phương pháp xử lý chuỗi thời gian: Các chỉ số tính toán (tỉ số mùa vụ, hệ số Gini) phản ánh mức độ tập trung theo mùa nhưng chưa phân tách hoàn chỉnh chuỗi dữ liệu theo đầy đủ 4 thành phần kinh tế lượng (T - Xu hướng, S - Mùa vụ, C - Chu kỳ, I - Ngẫu nhiên) như mô hình lý thuyết của DeLurgio (1998) đề ra.
- Hướng nghiên cứu tiếp theo: Tiếp tục theo dõi chuỗi số liệu từ năm 2023 trở đi để đánh giá xem sự chuyển dịch mùa vụ sang các tháng cuối năm là tạm thời hay định hình một chu kỳ dài hạn mới; đồng thời mở rộng phân tích chuyên sâu cho từng thị trường khách quốc tế cụ thể khi dữ liệu thị trường phục hồi đầy đủ.
Giá trị tham khảo
Bản khóa luận mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:
- Đối với sinh viên và học viên chuyên ngành: Cung cấp tài liệu tham khảo cụ thể cho sinh viên ngành Địa lí học, Địa lí du lịch, Quản trị dịch vụ du lịch và lữ hành, Kinh tế du lịch trong việc áp dụng các công cụ định lượng (tỉ số mùa vụ Yacoumis, hệ số Gini, chỉ số mùa vụ) vào phân tích một địa bàn hành chính cấp tỉnh.
- Đối với nghiên cứu học thuật: Minh họa quy trình xử lý dữ liệu thứ cấp từ cơ quan quản lý nhà nước và phương pháp đánh giá tác động của thiên tai, dịch bệnh đến tính ổn định của chuỗi thời gian du lịch.
- Đối với công tác quản lý và doanh nghiệp: Cung cấp góc nhìn thực chứng cho các nhà quản lý tại Sở Du lịch Thừa Thiên Huế và các doanh nghiệp khách sạn, lữ hành tại địa phương trong việc xây dựng kế hoạch nhân sự mùa vụ, bảo dưỡng buồng phòng và triển khai các gói sản phẩm kích cầu trái vụ.
Câu hỏi thường gặp
1. Tính thời vụ du lịch Thừa Thiên Huế giai đoạn trước dịch Covid-19 (2014 - 2019) có đặc điểm gì nổi bật?
Giai đoạn 2014 - 2019, tính thời vụ của tỉnh diễn ra tương đối ổn định với 2 đợt cao điểm: đợt 1 vào tháng 1 - 4 (dịp Tết và đón khách quốc tế nghỉ đông) và đợt 2 vào tháng 6 - 8 (kỳ nghỉ hè nội địa). Tháng có lượng khách cao nhất thường là tháng 4 (đạt đỉnh 330.600 lượt năm 2014) hoặc tháng 6 - 7 (đạt 390.100 lượt vào tháng 7/2017). Tỉ số mùa vụ duy trì từ 0,10 đến 0,11 và hệ số Gini xấp xỉ 1. Giai đoạn thấp điểm sâu rơi vào tháng 9 - 11 hàng năm do ảnh hưởng trực tiếp của mùa mưa bão miền Trung.
2. Đại dịch Covid-19 đã làm biến dạng các chỉ số đo lường tính thời vụ của tỉnh trong giai đoạn 2020 - 2021 như thế nào?
Đại dịch làm gián đoạn chu kỳ bình thường. Năm 2020, tổng khách giảm xuống 1,53 triệu lượt; trong đó tháng 1 đạt hơn 400.000 lượt nhưng tháng 4 rơi xuống mức 6.700 lượt do giãn cách theo Chỉ thị 16/CT-TTg, khiến tỉ số mùa vụ năm 2020 tăng vọt lên 0,15. Năm 2021, 6 tháng đầu năm đón được hơn 547.000 lượt nhưng 6 tháng cuối năm tụt giảm nghiêm trọng chỉ còn hơn 141.000 lượt. Hệ số Gini trong hai năm này vượt qua ngưỡng 1, phản ánh sự bất bình đẳng và tập trung cực đoan do các đợt phong tỏa và bùng phát dịch bệnh.
3. Sau khi mở cửa vào năm 2022, tính thời vụ du lịch Thừa Thiên Huế có sự thay đổi nào so với trước dịch?
Từ ngày 15/03/2022, hoạt động du lịch được mở cửa trở lại và tổng lượng khách đạt 2,04 triệu lượt (với tháng 7 cao nhất đạt hơn 279.000 lượt, chiếm hơn 13%). Sự thay đổi căn bản là 4 tháng đầu năm không còn là mùa cao điểm; hoạt động du lịch tập trung vào 7 tháng cuối năm. Tỉ số mùa vụ năm 2022 giảm về 0,14 và hệ số Gini giảm xuống khoảng 0,8, thể hiện mức độ chênh lệch mùa vụ bắt đầu thu hẹp dần so với giai đoạn căng thẳng của dịch bệnh.
4. Khóa luận sử dụng các chỉ tiêu định lượng cụ thể nào để đo lường tính thời vụ?
Tác giả sử dụng 4 chỉ tiêu định lượng: (1) Chỉ số thời vụ hàng tháng (tính phần trăm lượng khách từng tháng so với cả năm); (2) Tỉ số mùa vụ (lấy lượng khách tháng cao nhất chia cho lượng khách trung bình 12 tháng theo mô hình Yacoumis); (3) Chỉ báo tính thời vụ (nghịch đảo của tỉ số mùa vụ theo Koenig và Bischoff); (4) Hệ số Gini (tính toán sự phân bố không đồng đều của lượng khách hàng tháng theo công thức Lundtorp).
5. Tác giả đề xuất những nhóm giải pháp trọng tâm nào để hạn chế tác động tiêu cực của tính thời vụ tại địa phương?
Tác giả đề xuất 8 giải pháp: (1) Đẩy mạnh truyền thông mạng xã hội tới khách tiềm năng; (2) Giảm giá, ưu đãi tham quan trái vụ; (3) Đa dạng hóa sản phẩm du lịch sinh thái đầm phá (như rừng Rú Chá) và làng nghề; (4) Liên kết tuyến du lịch với Đà Nẵng, Quảng Nam, Quảng Trị; (5) Đào tạo nâng cao chuyên môn nhân lực trong mùa thấp điểm; (6) Bảo dưỡng, nâng cấp khách sạn vào mùa vắng khách; (7) Huy động vốn phát triển hạ tầng và cảng biển; (8) Tăng cường quản lý nhà nước và thực hiện quy hoạch Khu du lịch quốc gia Lăng Cô - Cảnh Dương.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Huỳnh Thị Ngọc Nhung đã hệ thống hóa cơ sở lý luận và phương pháp định lượng về tính thời vụ du lịch, đồng thời vận dụng phân tích thực chứng cho địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong giai đoạn 2014 - 2022. Công trình làm rõ tác động chi phối của điều kiện tự nhiên, khí hậu và các yếu tố kinh tế - xã hội đến dòng khách, đặc biệt phản ánh rõ nét sự biến động của hệ số Gini và tỉ số mùa vụ dưới ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Các phát hiện định lượng trong khóa luận là cơ sở thực tế quan trọng để tác giả đề xuất 8 nhóm giải pháp giảm thiểu tác động tiêu cực của tính thời vụ, góp phần định hướng khai thác hiệu quả tài nguyên và ổn định hoạt động kinh doanh du lịch tại địa phương.