Chương I: Tìm hiểu về SDTD trong day học Địa lí THPT. Chương II: Xây dựng SDTD trong dạy học Địa lí THPT. Chương III: Thực nghiệm sư phạm. Phan III: Kết luận và kiến nghị.
Trang 10 PHAN NỘI DUNG 1. Chương l: CƠ SO LÝ LUẬN 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VE DAY HỌC 1. Quá trình day học Trong nhà trường.
hoạt động dạy học bao giờ cũng là một quá trình. Quá trình dạy học có thể được hiểu như sau: đó là quá trình nhận thức tự giác của HS được thực hiện dưới sự hướng dẫn vé mặt sư phạm của GV, mục dich làm cho HS lĩnh hội được tư tướng cũng như nội dung học vấn của chương trình, nghĩa là: lĩnh hội được kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo, hình thành thế giới quan và phát triển được nhân cách cũng như những năng lực riêng vẻ trí tuệ. Tác động giữa GV và HS trong quá trình dạy học không phải là tác động đơn giản mà là tác động qua lại độc đáo, trong đó GV phải tổ chức hoạt động dạy làm sao dé khơi gợi, phát huy được tính tích cực. chủ động của HS, trang bị cho các em những kĩ năng độc lập công tác dé tự minh nhận thức, lĩnh hội được tri thức, chuyển hoá chúng thành năng lực bản thần.
Qua nội dung trên, vai trò của GV được hiểu là không thẻ thiếu được. Việc đưa ra nhận thức vé những phương pháp day học dé cho quá trình dạy học đạt kết qua cao nhất là rat quan trọng. Phương pháp dạy học > _ Phương pháp dạy học có thé được chia theo ba cấp độ:. ° Cấp độ trung gian (Phương pháp day học cụ thé).
Cấp độ vi mô (Kĩ thuật dạy học). PPDH hiện nay có ba cách hiểu như sau: ‘| PPDH là cách thức hoạt động của người giáo viên đẻ truyền thụ kiến thức, ren luyện kỹ năng va giáo dục học sinh theo mục tiêu của nha trường. PPDH là sự kết hợp các biện pháp va phương tiện làm việc của giáo viên vả học sinh trong quá trình đạy học, nhằm đạt tới những mục đích giáo dục. Trang \1 PPDH là cách thức hướng dẫn vả chỉ đạo của giáo viên nhằm tô chức hoạt động nhận thức va hoạt động thực hành của học sinh, dẫn tới việc học sinh lĩnh hội vững chắc nội dung học van, hình thành thé giới quan và phát triển năng lực nhận thức.
Cách hiểu thứ nhất và cách hiểu thử hai đều không cho rằng HS là trung tâm của quá trình day học. Cách hiểu thử ba thể hiện quan điểm mới, gan day nhat. Theo quan niệm này thi dạy học chính là quá trình tổ chức cho học sinh tự lĩnh hội tri thức. Vai trò của học sinh trong quá trình dạy học và vai trò chủ động.
Hay nói cách khác là các phương pháp học tập xuất phát từ các quy luật của sự lĩnh hội tri thức, quyết định hoạt động của giáo viên, phương pháp dạy học của giáo viên. Cũng trên cơ sở đó, các phương pháp dạy học mới đưa vào quá trình dạy học đều diya trên sự lĩnh hội tri thức của học sinh. SPTD cũng vậy, khi đưa vào là một PPDH, nó cũng phải đảm bảo là một PPDH hướng tới HS đầu tiên. Môn Địa lí luôn có sự đổi mới về phương pháp day hoc, những phương pháp được cho là hiệu quả đối với quá trình dạy và học của GV và HS.
Nhằm phát huy cao nhất mọi khá năng của HS, cũng như tính tích cực, chủ động, sáng tạo. > Các PPDH tích cực trong day hoc Địa li[ 12, tr.16]: , PP day học đặt và giải quyết vấn đề. PP hướng dẫn HS khai thác tri thức từ bản đồ ° PP đàm thoại ° PP thảo luận ° PP hợp tác nhóm nhỏ ° PP báo cáo k PP khảo sát, điều tra ° PP đạy học theo dự án ° PP sử dụng CNTT 1. Kithuat day học Ki thuật dạy học là những biện pháp, cách thức hành động của giáo viên và học sinh trong các tỉnh huống.
hoạt động nhằm thực hiện giải quyết một nhiệm vụ. nội dung cụ the. Trang \2 Có nhiều kĩ thuật dạy học khác nhau: kĩ thuật khăn phủ bản. kĩ thuật sơ đề tư duy, kĩ thuật mảnh ghép, kĩ thuật “K WL”, kĩ thuật lắng nghe va phản hỏi tích cực.
Các KTDH được hiểu là những kĩ thuật được sử dụng vao việc dạy học, giúp cho bai học đạt được hiệu quả cao, thường được kết hợp long ghép vao trong các PPDH. SDTD được coi là một kĩ thuật day học tích cực, được ứng dụng trong việc hỗ trợ cho các PPDH đạt hiệu quả cao như PPDH đặt và giải quyết vấn đề, PPDH theo dy án, PPDH hợp tác. Các ứng dụng nảy sẽ được cụ thể hơn trong phụ lục. việc phân định chỉ mang tính tương đối.
Sự phân biệt giữa quan điểm dạy học vả phương pháp dạy học. giữa phương pháp dạy học và kĩ thuật dạy học nhiều khi không thật rõ rang. Việc sử dụng SĐTD với cách nghĩ là một kĩ thuật dạy học cũng có lý do của mỗi người hay coi đây là một phương pháp của bản thân trong giảng dạy vả học tập cùng tuỳ vào hiệu quả và cách áp dụng của từng người. Địa lí là môn học luôn đón nhận những thay đôi tích cực, nhất là hiện nay cho phép tiền hành áp dụng những phương pháp, kĩ thuật day học tích cực.
Sơ đồ Tư duy xét ở nhiều góc độ cả việc dạy của GV và việc học của HS thì việc áp dụng và đưa vào nghiên cứu là rat cần thiết. Khi ma hiện nay có rất nhiều người, cả GV va HS đều coi đây là một phương pháp tối ưu cho việc dạy vả học của mình. Qua phan tìm hiểu trên, tôi cho rằng SPTD là một kĩ thuật dạy học rat tốt để hỗ trợ cho các PPDH tích cực trong dạy học Địa lí. Vậy SDTD có những cơ sở và đặc điểm như thế nao để coi đây là một phương pháp dạy và học hiệu qua, những điều này sẽ được làm rõ trong phan các van dé liên quan: Cơ sở lý thuyết, cơ sở thần kinh, tâm lý và tư duy của SĐTD tiếp theo sau đây.
CƠ SỞ LÝ THUYET VE SƠ DO TƯ DUY 1. SĐTD là gì Các tên gọi: Ban đề tư duy, lược đỏ tư duy, sơ đỏ tư duy. giản đỏ ÿ là những thuật ngữ chung chỉ “MindMap”. SDTD là phương pháp được đưa ra như là một phương pháp mạnh dé tận dụng khả năng phi nhận của não.
Day là cách dé ghi nhớ chỉ tiết, dé tổng hợp, hay phân tích một van dé thành một dang lược đồ phan nhánh. SDTD là một phương pháp ghi chú gdm một hình ảnh hoặc một từ khoá ở trung tâm. và từ từ khoá trung tâm đó phát triển ra nhiều ý. mỗi ý sẽ là một từ khoá mới, trong đó có nhiều ý nhỏ hơn.
Với đặc tinh nay, bất kỳ từ khoá hay hình ảnh chủ đạo nào bỗ sung vào SDTD đều có thé mở rộng phạm vi liên kết mới, rồi từ đó lại mở rộng phạm vi liên kết mới nữa và chu trình đó có thé lặp đi lặp lại đến vô hạn. Những đặc điểm của SĐTD: SDTD khai thác toản diện chức năng của vỏ não - từ, ảnh, số, suy luận, nhịp điệu, màu sắc bằng một kỹ thuật độc đáo và sáng tạo. £¡ _ Nhờ vào việc tận dụng những từ khoá vả hình anh, một khối lượng kiến thức rat lớn sẽ được ghi chú hết sức cô đọng chi trong một trang giấy, mà không bỏ sót bat kỷ thông tin quan trọng nao. SĐTD có rat nhiều hình ảnh để bạn hình dung ve kiến thức cần nhớ.
SĐTD giống như một bức tranh lớn (bức tranh tổng thé) day hình anh và màu sắc phong phú hơn là một bài giảng khô khan và nhàm chán. SĐÐTD hiển thị sự liên kết giữa các ý tưởng rat rõ rang. © _ Thay cho những từ ngữ tẻ nhạt, đơn điệu, SĐTD cho phép làm nỗi bật các ý tưởng trọng tâm bằng cách sử dụng những màu sắc. kích cd, hình ảnh đa dạng.
Giúp tạo ra một bức tranh mang tính logic, liên kết chặt chẽ về những gi học được. SDTD giúp chúng ta tận dụng được các chức nang của vỏ não trái va phải. Đây chính 14 công cụ vận dụng được toàn bộ sức mạnh của bộ não. Nếu vận dụng đúng cách.
nỏ sẽ hoản toản giải phỏng những năng lực tiềm ân bẻn trong mỗi người. Trang L4 SDTD do Tony Buzan đưa ra vào năm 1970, hiện nay đã được sử dụng bởi 2850 triệu người trên thé giới. Sơ đô tư duy là một công cụ tô chức tư duy, là con đường dễ nhất đẻ chuyển tải thông tin vào bộ não rồi đưa thông tin ra ngoài bộ não. Dong thời là một phương tiện ghi chép day sáng tạo và rất hiệu quả theo đúng nghĩa của nó: "sắp xếp” ý nghĩ.1 minh hoa cho một tế bào trong não bộ.
SĐTD được Tony Buzan phát minh ra cũng từ việc ông tìm hiểu về bộ não con người và cách tổ chức sắp xép thông tin theo mạng lưới.1 - Một tế bào đơn lẻ trong số một ngàn tỷ tế bào của một bộ não Ví dụ: Thay vì tổ chức cho học sinh ôn tập theo cách truyền thống, giáo viên có thể triển khai các nội dung can ôn tập bằng cách sử dụng SĐTD, tạo điêu kiện cho học sinh sử dụng kiến thức đã học. vận dụng chúng vào thực tế. Dưới đây là một phương án sử dụng SDTD khi ôn tập chương "Địa lí dan cư” (lớp 10). Giáo viên có thé néu một câu hoi khái quát: “Hay sử dụng SĐTD de tim hiệu các van đẻ liên quan đến dân cư”.
Học sinh suy nghĩ về câu hỏi trén Trang 15 và đưa ra câu trả lời (dau tiên) cho câu hỏi chính (vẽ SDTD ứng với tử khoá trung tâm là Dân cư). Lần lượt bỏ sung từ ngữ/ ý tưởng vào câu trả lời cho câu hỏi chỉnh. Học sinh đưa ra các van đẻ liên quan đền điện như: gia tăng dan số, cơ câu dân số, phân bố dân cu,. Học sinh đọc ý kiến của các thành viên trong nhóm va thống nhất.
Đó chính là các từ khoá cắp 1. Từ tử khoá cấp 1, giáo viên có thé sử dụng kĩ thuật đặt câu hỏi SW1H (câu hỏi “Là gì?" (What); “Khi nao?" (When); “Ai?” (Who); “Ở đâu?": (Where); “Vi sao?” (Why); “Nhu thế nào?" (How)) dé yêu cầu học sinh đưa ra các van dé liên quan đến các từ khoá cấp 2. Học sinh thảo luận về các câu trả lời khác nhau và cỗ đánh dấu những đặc điểm chính yếu (gạch chân hoặc dùng mau khác nhau). Ví dụ, với câu hỏi: “Cé những nguyên nhân nào làm gia tang dan số?